31 décembre 2010

Lc 2,6b-20: Hành trình các mục đồng, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su


Đường phố Bê-lem [24/11/2007]
Hành trình các mục đồng cũng là
hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su:
Thấy, nghe, xác tín, ra đi loan báo 

và ca tụng Thiên Chúa
Lc 2,6b-20
(Bản dịch của NPDCGKPV)
Khi ông Giu-se và bà Ma-ri-a đang ở Bê-lem, miền Giu-đê,
6b thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.
7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.
9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.
10 Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:
11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.
12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."
13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
14 "Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
15 Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết."
16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.
18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.

Chia sẻ
Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 vẽ lên ba bức tranh chính: (1) Đức Ma-ri-a hạ sinh Đức Giê-su ở Bê-lem. (2) Chuyện những người chăn chiên được báo tin và tìm đến gặp Hài Nhi. (3) Lời ca ngợi Thiên Chúa của các sứ thần.
Xin chia sẻ câu chuyện về những người chăn chiên trong bức tranh thứ hai, liên quan đến các động từ “nghe”, “thấy”, “nói” và “tôn vinh Thiên Chúa”. Có thể hành trình của những người chăn chiên cũng là hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su qua mọi thời đại.
Bức tranh về nhân vật những người chăn chiên thật sinh động. Sứ điệp mà sứ thần dành cho những người chăn chiên là audio-visuel, nghĩa là vừa nghe bằng tai vừa thấy bằng mắt.
Trước hết những người chăn chiên thấy sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (2,9). Kế đến là họ nghe lời sứ thần với hai ý. Một là báo tin vui: Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít. Thứ đến là dấu chỉ để nhận ra Hài Nhi: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (2,12). Như thế, lời loan báo của sứ thần không phải chỉ để nghe cho biết, nhưng là một sứ điệp có khả năng biến “sợ hãi” thành “niềm vui”, có khả năng biến “lời nói” thành “hành động”: đứng dậy và lên đường.
Đáp trả lời mời gọi, những người chăn chiên bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (2,15). Họ đã “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (2,16) như lời sứ thần loan báo. Nhờ kiểm chứng “lời đã nghe” bằng “mắt đã thấy”, những người chăn chiên xác tín sự kiện đã xảy ra, từ đó trình thuật chuyển sang đề tài đối thoại với ba khía cạnh:
1) Đối thoại với người khác. Những người chăn chiên đã kể lại những điều họ đã nghe sứ thần Chúa nói với mình về Hài Nhi.
2) Đối thoại với chính mình qua hình ảnh Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Tự đối thoại với chính mình bằng cách sống với biến cố, tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời để hiểu ý nghĩa của biến cố.
3) Đối thoại với Thiên Chúa bằng cách “tôn vinh và ca tụng” (2,20) như những người chăn chiên đã làm.
Câu kết cho thấy điểm nhấn của câu chuyện: “Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (2,20). Nhắc lại những gì đã thấy và lời loan báo để kết câu chuyện, làm lộ ra ý nghĩa trình thuật nhắm tới:
Thấy vinh quang Chúa, nghe tin vui và dấu chỉ của sứ thần, vội vã lên đường; khi đã gặp thì kể cho mọi người biết và rồi lại ra đi tôn vinh Thiên Chúa.
Đó là hành trình của người tin, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su. Nghe, biết, đón nhận, tin vào Người để rồi ra đi chia sẻ cho người khác và không ngừng ca tụng tình thương của Thiên Chúa dành cho loài người.
Người chăn chiên là hạng người thấp nhất trong xã hội, nhưng họ lại là người được loan báo tin vui trước hết. Không những Thiên Chúa không loại trừ một ai mà Người còn dành ưu ái cho hạng người thấp nhất trong xã hội. Vì thế, chúng ta đừng bao giờ thất vọng về chính mình hay nghĩ là Chúa bỏ rơi mình. Thực ra, chỉ có con người bỏ rơi Thiên Chúa chứ Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người.
Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 gợi lại hành trình trở thành người môn đệ và hành trình sứ vụ của chúng ta. Xin cho chúng ta biết cách nhìn để thấy những gì đã và đang xảy ra trong lịch sử; biết cách lắng nghe Lời mặc khải để đón nhận tin vui trọng đại cho loài người, để từ đó xác tín và lên đường, hân hoan loan báo tin vui và cất lời ca tụng Thiên Chúa như những người chăn chiên đã làm. Để được như thế, ước gì chúng ta luôn suy đi nghĩ lại trong lòng giáo huấn của Đức Giê-su trong suốt hành trình làm người, như Mẹ đã làm./.

Ngày 01 tháng 01 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

27 décembre 2010

Mt 2,13-23: Sức mạnh trong yếu ớt, niềm vui trong nỗi đau


Cánh đồng Bê-lem ngày nay [24/11/2007]

Mt 2,13-23 (Bản dịch NPDCGKPV)
13 Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!"
14 Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.
15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.
16 Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.
17 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a:
18 "Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.
19 Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se bên Ai-cập,
20 báo mộng cho ông rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi."
21 Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en.
22 Nhưng vì nghe biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê,
23 và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Na-da-rét.

Chia sẻ
Dẫn nhập
Đoạn Tin Mừng Mt 2,13-23 trình bày hai đề tài chính:
1) Tương phản giữa sức mạnh và sự yếu ớt, giữa quyền lực của vua Hê-rô-đê và không chút quyền lực nào của Thánh Gia. Sự tương phản làm lộ ra cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại. Phải chăng Thiên Chúa bày tỏ sức mạnh của Người trong chính sự yếu ớt và không quyền hành?
2) Tương phản thứ hai xoay quanh “niềm vui” và “nỗi buồn”. Điều nghịch lý là thay vì Đấng Cứu Tinh xuất hiện đem lại niềm vui cho con người, thì lại dẫn đến đau thương và nước mắt. Làm thế nào để nối kết niềm vui Giáng Sinh với nỗi đau của những người mẹ mất con? (2,18) Đâu là niềm vui đích thực trong biến cố Con Thiên Chúa đến cứu loài người?
Xin chia sẻ hai ý tưởng nghịch lý: “Sức mạnh trong yếu ớt” và “niềm vui trong nỗi đau” để tìm hiểu cách Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử và niềm vui lớn lao nơi biến cố Con Thiên Chúa đến với nhân loại.

I. SỨC MẠNH TRONG YẾU ỚT
Tin Mừng Mát-thêu 2,13-23 thoáng cho thấy cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử, qua tương phản mạnh mẽ giữa sức mạnh và yếu ớt, giữa quyền lực và không quyền lực.
Thánh Giu-se, Mẹ Ma-ri-a và Hài Nhi Giê-su nổi lên trong trình thuật với nét âm thầm, khó nghèo và không chút quyền lực nào. Cả ba nhân vật đều không lên tiếng trong trình thuật. Thánh Giu-se không nói nhưng mau mắn hành động để bảo vệ sự sống của gia đình. Đầu bài Tin Mừng, khi được báo mộng, thánh Giu-se “liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập” (2,14). Gần cuối bài Tin Mừng, khi được báo mộng, thánh Giu-se “liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en” (2,21). Cuối cùng, thánh Giu-se cũng được báo mộng để đưa Thánh Gia về Na-da-rét thay vì về Giu-đê (2,22).
Bài Tin Mừng thuật lại ba cuộc chạy trốn theo nghĩa rộng. Trình thuật mở đầu: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra đi”. Trong mạch văn, đây là một cuộc chạy trốn, vì các nhà chiêm tinh đã thất hứa, không cho vua Hê-rô-đê biết chỗ ở của Hài Nhi, nên họ có nguy cơ bị truy đuổi. Cuộc chạy trốn thứ hai là đang đêm Thánh Gia phải trốn sang Ai Cập. Cuộc chạy trốn thứ ba theo nghĩa lánh nạn: Thay vì về Giu-đê thì lánh về Na-da-rét để thoát khỏi sự bách hại của vua Ác-khê-lao, người kế vị vua cha Hê-rô-đê.
Như thế, Thánh Gia ở trong hoàn cảnh mong manh, yếu ớt và khó nghèo. Khó nghèo vì sinh hạ con đầu lòng trong hang bò lừa giữa mùa đông giá rét. Yếu ớt vì mới sinh hạ đã phải chạy trốn trong đêm tối. Đường đi thì dài và nguy hiểm, nơi đến là đất khách quê người. Bản văn cho thấy đây là cuộc chạy trốn của một gia đình đơn độc, chỉ có ba người. Thế giới ngày nay vẫn xảy ra những cảnh chạy trốn, chạy chốn thiên tai, chạy chốn chiến tranh, chạy trốn bách hại…
Yếu tố thứ hai trong bản văn là vai trò quan trọng của sứ thần Chúa với hai lời tường thuật trực tiếp: Lời thứ nhất: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy” (2,13). Lời thứ hai: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi” (2,20). Lời báo mộng thứ ba thuật lại gián tiếp, cho biết nơi trở về là Ga-li-lê thay vì về Giu-đê.
Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống, không có gì mong manh hơn giấc mơ, chỉ là giấc mơ, chỉ là báo mộng, qua đó cho biết ý định của Thiên Chúa, chứ không phải là bày tỏ uy quyền trong lịch sử. Trình thuật tạo nên tương phản mạnh mẽ giữa báo mộng với thực quyền sinh sát của Hê-rô-đê.
Yếu tố thứ ba trong bản văn là kiểu nói: “để ứng nghiệm lời đã phán”. Lời thứ nhất là “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập”. Câu trích gợi lại biến cố dân Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Biến cố Xuất Hành ngày xưa được áp dụng cho Hài Nhi Giê-su như thể báo trước vai trò Mê-si-a của Người. Lời trích thứ hai: “Người sẽ được gọi là người Na-da-rét” giải thích quê hương trần thế của Đức Giê-su (lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a sẽ phân tích trong mục II).
Qua lời trích, như thể các biến cố xảy ra đã được xếp đặt trước. Phải chăng sự bách hại của Hê-rô-đê đã được Thiên Chúa xếp đặt?
Bản văn trình bày hai chiều kích: Chiều kích lịch sử với sự bách hại của Hê-rô-đê và sự khó khăn, thiếu thốn của Thánh Gia. Chiều kích mặc khải là cách Thiên Chúa hành động trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Qua bài Tin Mừng có thể rút ra hai kết luận:
1) Những tai hoạ con người gây ra cho nhau không phải là do Thiên Chúa sắp đặt mà là do tội lỗi và tham vọng của con người. Một lời nói của một vị vua tham vọng có thể giết chết hàng trăm người vô tội. Điều Hê-rô-đê đã làm vẫn còn xảy ra đây đó ngày nay.
2) Đứng trước tham vọng của con người, chương trình cứu độ của Thiên Chúa vẫn được thực hiện trong sự mong manh, nhỏ bé, yếu ớt, không quyền hành, qua hình ảnh một Hài Nhi mới sinh, một gia đình không nhà cửa, không tiện nghi và đang chạy trốn. Sự yếu ớt còn thể hiện qua sự âm thầm, im lặng của Thánh Gia trong bản văn.
Tất cả những yếu ớt trên làm tỏ lộ ra sức mạnh của Thiên Chúa. Thực vậy, điều trớ trêu là một thế lực hùng mạnh như vua Hê-rô-đê cũng không làm gì được một trẻ thơ vừa mới sinh hạ. Thế lực bóng tối không tiêu diệt được ánh sáng. Có thể nói, không có gì, không có thế lực đen tối nào trong lịch sử có thể ngăn cản được chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đó là điều an ủi lớn lao cho người tin vào Đức Giê-su trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách như Thánh Gia.
Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở đây. Trình thuật hôm nay chuẩn bị một nghịch lý lớn lao hơn. Hôm nay, Thánh Gia thoát khỏi sự bách hại của Hê-rô-đê, nhưng 33 năm sau, Đức Giê-su đã không bảo toàn được mạng sống của mình, Người đã bị bách hại và đã chết trên thập giá. Nhưng Thiên Chúa vẫn không thua thế lực bóng tối. Thập giá là nơi chiến thắng thế lực của sự chết, Thập giá là nơi Đức Giê-su được tôn vinh, là lúc Người đi về với Cha và sống với các môn đệ mãi mãi.
Biến cố Thánh Gia xuất hành từ Ai Cập trở về đất Ít-ra-en là hình ảnh của một cuộc xuất hành khác: Đức Giê-su từ thế gian này đi về với Cha.
Tóm lại, sức mạnh của Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lộ trong sự yếu ớt, kể cả sự chết. Như thế, Thiên Chúa bày tỏ “sức mạnh” trong “không có sức mạnh”, bày tỏ “quyền hành” trong “không có quyền hành”. Ước gì chúng ta xác tín rằng sức mạnh của Thiên Chúa vẫn tỏ lộ trong những khó khăn và thách đố thường ngày của chúng ta. Xin cho chúng ta tin tưởng, phó thác và mau mắn hành động như thánh Giu-se dưới sự hướng dẫn của sứ thần Chúa.

II. NIỀM VUI TRONG NỖI ĐAU
Biến cố Giáng Sinh là niềm vui lớn lao cho toàn thể nhân loại. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa bước qua một giai đoạn quyết định. Con Thiên Chúa nhập thể mang đến cho loài người sự sống đích thực. Nhưng khởi đầu của niềm vui cũng là khởi đầu của những nỗi đau mất mát và chết chóc. Câu hỏi đặt ra: Niềm vui ở đâu? Phải hiểu niềm vui Giáng Sinh như thế nào trong những nỗi đau mà nguyên nhân là Đấng Cứu Tinh đã ra đời?
Cơn giận của Hê-rô-đê bị các nhà chiêm tinh lừa dẫn đến chuyện “giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống” (2,16). Cơn giận của một kẻ có quyền lực thật khủng khiếp.
Nhưng đâu là ý nghĩa của trình thuật. Về lịch sử, phải khởi đi từ cuối Tin Mừng, biến cố lịch sử có thật là biến cố Thương Khó, kế đến là các trình thuật về cuộc đời công khai của Đức Giê-su. Các tác giả sách Tin Mừng đã thu thập tài liệu và truyền thống, sau đó sắp xếp lại để xây dựng thần học riêng của mỗi sách Tin Mừng. Thời thơ ấu của Đức Giê-su ít tính lịch sử hơn cả, nhưng lại đậm nét thần học. Chỉ có Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca có trình thuật thời thơ ấu, nhưng mỗi Tin Mừng lại có những đặc điểm riêng. Điểm nhấn thần học của trình thuật thời thơ ấu khẳng định: Đấng Cứu Tinh xuất hiện là ứng nghiệm lời Kinh Thánh, là một phần trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa trải dài trong lịch sử dân Ít-ra-en.
Chẳng hạn, chuyện Hê-rô-đê sát hại các con trẻ ở Bê-lem và vùng lân cận là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt 2,18 // Gr 13,15).
Trong sách Giê-rê-mi-a đây là lời tiên báo thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy năm 587 TCN. Ra-ma là một làng ở phía Bắc Giê-ru-sa-lem, gần Ramala ngày nay. Thời Giê-rê-mi-a, Ra-ma là nơi tập trung dân Giu-đa để bị đưa đi lưu đày ở Ba-by-lon. Tại Ra-ma, bà Ra-khen là một trong hai người mẹ của con cái Ít-ra-en đã khóc thương con cái Ít-ra-en bị đưa đi lưu đày không trở về nữa.
Mát-thêu nối kết tiếng khóc của bà Ra-khen với Bê-lem bởi vì theo St 35,19-20: “Bà Ra-khen qua đời và được chôn trên con đường đi Ép-ra-tha, tức là Bê-lem. Ông Gia-cóp dựng một bia đá trên mộ bà, đó là bia mộ bà Ra-khen, vẫn còn cho đến ngày nay.”
Trong bối cảnh cộng đoàn Tin Mừng Mát-thêu vào cuối thế kỷ I, những dữ liệu trên cho phép hiểu trình thuật các trẻ Bê-lem bị giết gợi lại biến cố Đền Thờ bị phá huỷ năm 70. Một biến cố lịch sử ảnh hưởng sâu đậm tâm thức dân Do Thái, đặc biệt Tin Mừng Mát-thêu được viết cho cộng đoàn tín hữu xuất thân từ Do Thái giáo.
Đền Thờ bị phá huỷ, bị đốt cháy, không chỉ trẻ thơ mà nhiều người Do Thái đã chết để bảo vệ thành Thánh. Đây là một biến cố làm đảo lộn không chỉ một số làng ở Bê-lem mà cả một dân tộc. Từ đó họ phải sống lưu vong trong hai mươi thế kỷ; và ngày nay vẫn còn nhiều khó khăn để có một quê hương yên bình.
Đối với độc giả, câu hỏi đặt ra: Tại sao Đấng Cứu Tinh xuất hiện lại dẫn đến cái chết của những trẻ thơ vô tội. Chúa ở đâu khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá huỷ và dân Do Thái phải tản mác khắp nơi? Đâu là niềm vui, khi chỉ thấy chết chóc, khóc than và nước mắt?
Thiết nghĩ, gương các thánh tử đạo cho chúng ta câu trả lời. Sự sống Thiên Chúa ban quý trọng hơn sự sống thể lý. Ai tin vào Đức Giê-su thì có niềm vui và bình an của Người ngay giữa lúc khó khăn thử thách. Đó là niềm vui không ai lấy mất được. Vì niềm vui và sự sống đích thực được ban tặng, mà các thánh tử đạo đã dám hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho niềm vui lớn lao đó. Có thể nói, các ngài đã chấp nhận chết để sống.
Ước gì chúng ta nhận ra niềm vui sâu xa mà Thiên Chúa đã ban tặng cho loài người để từ đó vượt qua mọi khó khăn thách đố trong hiện tại.
Ước gì chúng ta nhận ra cách Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử để từ đó xác tín và đón nhận sự can thiệp của Người trong cuộc đời mình./.

Ngày 28 tháng 12 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

15 décembre 2010

Ga 1,1-18: “Thấy” và “Nghe” Lời Nhập Thể



Bài viết tiếng Pháp:

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 15 tháng 12 năm 2010.
Cập nhật: Ngày 22 tháng 12 năm 2013.

Nội dung

1. Bản văn và cấu trúc lời tựa Ga 1,1-18.   
   a) Bản văn Ga 1,1-18.
   b) Cấu trúc lời tựa.
2. “Lời đã trở nên người phàm” (1,14a).
3. “Chúng tôi đã thấy vinh quang...” (1,14b).
4. “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ” (1,18a).
5. Con Một kể về Thiên Chúa (1,18b).
6. Tương quan “Cha” – “Con Một”. 
7. Kết luận.

Jn 1,1-18: “Voir” et “Entendre” le Logos s'est fait chair



Article en vietnamien:

Email: josleminhthong@gmail.com
Le 15 Décembre 2010.
Mise à jour: Le 22 Décembre 2013.


Voir le nouvel article ici:


12 décembre 2010

Tôn chỉ


Trang web http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ của Giu-se Lê Minh Thông, tu sĩ linh mục Dòng Đa Minh, tiến sĩ thần học Kinh Thánh tại Université Catholique de Lyon - France, chuyên về Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư), đã được cha Giu-se Ngô Sỹ Đình O.P., Giám Tỉnh Dòng Đa Minh, xét duyệt và chấp thuận ngày 13 tháng 12 năm 2010.

Chỉ có trong trang web này những bài viết liên quan đến việc học hỏi và chia sẻ Kinh Thánh, đặc biệt là Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư), nhằm góp phần tìm hiểu sứ điệp mặc khải của bản văn Kinh Thánh.

Ba mục đích của trang web:
(1) Giới thiệu sách đã xuất bản gồm các loại sách: Học hỏi Tin Mừng Gio-an; Bản văn Kinh Thánh; Phương pháp đọc Kinh Thánh; Học tiếng Hy Lạp Tân Ước. 
(2) Chia sẻ Tin Mừng qua gợi ý phân tích những đoạn văn trong bốn sách Tin Mừng.
(3) Tài liệu học tập về cách áp dụng phân tích thuật chuyện (analyse narrative) và phân tích cấu trúc (analyse structurelle) để tìm hiểu ý nghĩa một đoạn văn Kinh Thánh.


5 décembre 2010

Ga 20,1-9: “Ông đã thấy và đã tin” (20,8). Ai thấy? Thấy gì? Tin gì?


Một ngôi mộ cổ ở Giê-ru-sa-lem [19.09.2007]

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 05 tháng 12 năm 2010.
Cập nhật ngày 20 tháng 04 năm 2014.


Đoạn Tin Mừng Ga 20,1-9 nói về tiến trình “thấy” và “tin” của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Xin chia sẻ đôi nét về người môn đệ bí ẩn này và ý nghĩa của việc “thấy” và “tin”.

Người thuật chuyện kể ở Ga 20,1-9: “1 Vào ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối, bà thấy tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ. 2 Bà liền chạy đến với Si-môn Phê-rô và người môn đệ khác người Đức Giê-su thương mến –, bà nói với các ông: ‘Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.’ 3 Vậy Phê-rô và người môn đệ khác đi ra và họ đi đến mộ. 4 Cả hai ông cùng chạy, người môn đệ khác nhanh hơn Phê-rô, chạy trước và đã đến mộ trước tiên. 5 Cúi xuống nhìn, ông ấy thấy những băng vải còn để đó nhưng không đi vào. 6 Si-môn Phê-rô theo sau ông ấy cũng đến nơi, đi vào trong mộ và thấy những băng vải còn để đó, 7 và khăn che đầu của Người không để với những băng vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ khác cũng đi vào người đã tới mộ trước tiên –, ông ấy đã thấy và đã tin. 9 Thực ra, các ông chưa hiểu theo Kinh Thánh là Người phải trỗi dậy từ giữa những kẻ chết.” (Trích dẫn lấy trong: Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt).

Truyền thống đồng hóa môn đệ Đức Giê-su yêu mến với tông đồ Gio-an. Nhưng thực tế không đơn giản. Trong Tin Mừng Nhất Lãm, tông đồ Gio-an thuộc nhóm ba môn đệ thân tín của Đức Giê-su: Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. Hình ảnh tông đồ Gio-an, cũng như các môn đệ khác, thường là không hiểu Đức Giê-su. Khi Gio-an và Gia-cô bê xin được ngồi bên hữu và bên tả, Đức Giê-su nói: “Các anh không biết các anh xin gì” (Mc 10,38a). Khi những người Sa-ma-ri không tiếp đón Thầy trò, Gia-cô-bê và Gio-an nói: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?” Và Đức Giê-su đã quay lại quở mắng các ông (Lc 9,54-55). Ở vườn Ghết-sê-ma-ni, ba môn đệ thân tín ngủ khi Thầy đang hấp hối (Mc 9,32-42). Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Phê-rô đóng vai trò tông đồ trưởng và nổi bật hơn tông đồ Gio-an.

Trong Tin Mừng thứ tư, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến có một vị trí đặc biệt và nổi bật hơn Phê rô và các môn đệ khác trong nhiều khía cạnh. Người môn đệ này xuất hiện lần đầu tiên trong bữa tiệc ly (Ga 13,1-32). Phê-rô phải nhờ người môn đệ này hỏi Đức Giê-su xem ai là người sẽ nộp Thầy (Ga 13,23-24). Người môn đệ này có vị trí gần Đức Giê-su hơn Phê-rô và hiểu Đức Giê-su hơn Phê-rô. Trong biến cố Thương Khó, các môn đệ khác sợ sệt bỏ chạy, thì người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đứng dưới chân thập giá và được Đức Giê-su trao phó chăm sóc Mẹ của Người (Ga 19,26-27). Trong trình thuật ngôi mộ trống (Ga 20,1-9), người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã thấy và đã tin, còn lòng tin của Phê-rô không được nói đến. Khi Đấng Phục Sinh hiện ra trên bờ biển hồ Ti-bê-ri-a (Ga 21,1-14), người môn đệ này là người đầu tiên nhận ra Đức Giê-su.

Như thế, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trổi vượt hơn Phê-rô và các môn đệ khác về ba phương diện: (1) Về vị trí, ông ở bên cạnh Đức Giê-su trong bữa tiệc Vượt qua cuối cùng (Ga 13,23), (2) Về lòng tin, ông đã thấy và đã tin trước ngôi mộ trống (Ga 20,8), (3) Về sự hiểu biết, ông nhận ra Chúa trước tất cả các môn đệ khác (Ga 21,7).

Việc người môn đệ Đức Giê-su yêu mến thường hiện diện với Phê-rô trong Tin Mừng thứ tư không đủ để đồng hóa người môn đệ này với tông đồ Gio-an trong Tin Mừng Nhất Lãm. Với sự thân tín đặc biệt và được trình bày cách lạ lùng trong Tin Mừng Gio-an, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến là một nhân vật lịch sử đã trở thành nhân vật biểu tượng. Đây là người môn đệ lý tưởng và mẫu mực cho người tin qua mọi thời đại.

Đoạn Tin Mừng Ga 20,1-9 cho biết thế nào là “thấy” và “tin”. Có thể hiểu người môn đệ này không vào mồ trước, vì tôn trọng Phê-rô là trưởng Nhóm Mười Hai; nhưng mạch văn cho thấy, ông trổi vượt hơn Phê-rô về ba khía cạnh: (1) Trước hết, ông chạy trước Phê-rô để tới mộ trước. Việc ông mau mắn hơn Phêrô cho thấy sự gắn bó giữa ông và Đức Giê-su, (2) Thứ đến, ông là người thấy những băng vải trong mộ trước Phê-rô, (3) Cuối cùng, sự thấy của ông có hiệu lực hơn sự thấy của Phê-rô: Những điều Phê-rô thấy chỉ có tính cách thông tin, còn những gì người môn đệ này thấy bằng mắt thể lý đã dẫn tới thấy bằng mắt đức tin, “ông đã thấy và đã tin” (20,8).

Hai động từ “thấy” và “tin” không có bổ túc từ nên có thể hiểu theo nghĩa rộng. Những điều người môn đệ này thấy không chỉ là thấy những băng vải như đã kể ở trên, mà ông còn thấy ngôi mộ trống rỗng, thấy Đức Giê-su không còn đó. Xa hơn, gợi đến những gì ông đã thấy khi đứng dưới chân thập giá. Tuy nhiên, đây không phải là “thấy” bình thường mà là thấy đúng theo ý Thiên Chúa. Nghĩa là “thấy” và “tin” gắn kết với nhau như Đức Giê-su đã nói: “Đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai thấy người Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời” (6,40).

Động từ “tin” trong câu: “Ông đã thấy và đã tin” (20,8) cũng không có túc từ và cho phép hiểu: Người môn đệ này không chỉ tin vào việc Đức Giê-su sống lại mà còn tin vào những lời Đức Giê-su đã nói, tin Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha sai đến, tin là Đức Giê-su có thể ban sự sống đời đời. Và ở mức độ cao nhất: Tin Đức Giê-su là Chúa và là Thiên Chúa như lời Tô-ma tuyên xưng trước Đấng Phục Sinh: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (20,28). “Thấy” và “tin” theo nghĩa tuyệt đối, không có túc từ, cho thấy người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã hiểu ý nghĩa của biến cố Thương Khó.

Tuy nhiên, giữa việc “thấy bằng mắt” và “tin” có một khoảng cách lớn lao. Bởi lẽ ngôi mộ trống và những băng vải không phải là bằng chứng hiển nhiên về việc Đức Giê-su Phục Sinh. Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã thấy dấu chỉ, chứ không thấy Đức Giê-su sống lại. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi Tin Mừng thứ tư kết thúc với lời động viên các tín hữu thế hệ sau: “Phúc cho những người không thấy mà là những người tin” (20,29).

Thực ra, không ai có bằng chứng hiển nhiên về việc Đức Giê-su sống lại. Dù chúng ta là những người không thấy mà tin, bài Tin Mừng mời gọi chúng ta đạt tới hành động “thấy” đích thực như người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Từ việc thấy dấu chỉ được kể lại trong Tin Mừng, dẫn tới việc thấy bằng con mắt đức tin, nghĩa là nhận ra sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong cuộc đời.

Việc Đức Giê-su Phục Sinh đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, xin cho tất cả chúng ta “thấy” và “tin” qua những dấu chỉ thuật lại trong Tin Mừng và qua những dấu chỉ trong cuộc sống hôm nay để đón nhận sự sống, niềm vui và bình an của Đấng Phục sinh ban tặng./.

Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/12/ong-thay-va-tin-ai-thay-thay-gi-tin-gi.html


Xem phân tích chi tiết về người môn đệ môn đệ bí ẩn và độc đáo này trong tập sách: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?