24 novembre 2010

Ga 10,11-18: Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?



Chăn cừu trong hoang mạc Giu-đê
[ngày 05 tháng 01 năm 2008]

 

Bản văn (Lê Minh Thông dịch sát bản văn Hy Lạp)


Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu:
11 Chính Tôi là mục tử tốt. Mục tử tốt hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên.
12 Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình. Thấy sói đến, anh ta bỏ đàn chiên mà chạy - và sói vồ lấy chúng và làm tán loạn -.
13 Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên.
14 Chính Tôi là mục tử tốt. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi,
15 như Cha biết Tôi, và Tôi biết Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.
16 Tôi còn có những chiên khác, chúng không thuộc ràn này. Tôi cũng phải dẫn dắt chúng và chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ làm thành một đàn chiên, một mục tử.
17 Vì điều này mà Cha yêu mến Tôi: Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại nó.
18 Không ai lấy nó khỏi Tôi, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh nó. Tôi có quyền hy sinh nó và Tôi có quyền lấy lại nó. Tôi đã nhận mệnh lệnh này từ nơi Cha của Tôi.”




Đức Giê-su là mục tử tốt, Người là mục tử duy nhất của đàn chiên. Khi tham gia nhiệm vụ chăn dắt trên nhiều cấp độ khác nhau trong Hội Thánh, chúng ta dễ quên là chỉ có một mục tử duy nhất là Đức Giê-su. Những người có nhiệm vụ chăn dắt trong cộng đoàn là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người. Đàn chiên đó thuộc về Đức Giê-su. Sở hữu đàn chiên là Đức Giê-su, vì chỉ một mình Người là mục tử tốt, chỉ một mình Người có khả năng “hy sinh và lấy lại mạng sống mình” vì yêu mến đàn chiên. Xin chia sẻ đôi nét về tư cách mục tử của Đức Giê-su và về vai trò người chăn dắt trong cộng đoàn Hội Thánh.

Trước hết, người ta thường gọi Đức Giê-su là “Mục tử nhân lành” cách nói này chưa diễn tả hết ý nghĩa, vì có thể chỉ dừng lại ở nghĩa “hiền lành”, “tốt lành”. Trong khi, bản văn Hy Lạp dùng tính từ “tốt” (kalos). “Mục tử tốt” không chỉ là “tốt lành”, “hiền lành”, mà điều quan trọng hơn là “tốt” về phẩm chất. Người mục tử tốt là người có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của nhiệm vụ chăn dắt và chu toàn tốt đẹp vai trò mục tử.

Khẳng định của Đức Giê-su: “Chính Tôi là mục tử tốt” là kiểu nói đặc trưng của thần học Gio-an. Đức Giê-su là ánh sáng, là bánh, là cây nho đích thực, là cửa ràn chiên, là mục tử tốt. Tính từ “tốt” cho phép phân biệt với tất cả các mục tử khác trong Cựu Ước. Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su không so sánh mình với các mục tử khác, bởi vì Người là mục tử duy nhất của đàn chiên.

Đức Giê-su là mục tử tốt, vì Người hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên (10,11). Lời này lạ lùng và nghịch lý. Nếu mục tử chết, đàn chiên cũng chết. Vì không có ai bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ. Trên thực tế, người mục tử phải tìm mọi cách để sống còn. Dù phải đối diện với nguy hiểm, người mục tử khôn ngoan là người bảo toàn được mạng sống của mình, như thế mới có thể bảo vệ đàn chiên. Bởi vì, sự sống còn của đàn chiên lệ thuộc vào sự sống còn của mục tử. Người mục tử tốt là người “sống vì đàn chiên”, chứ không phải là người “hy sinh mạng sống mình”, theo nghĩa “chết vì đàn chiên” như Đức Giê-su nói.

Thực ra, cuối đoạn Tin Mừng, sự sống của Đức Giê-su được đề cao. Người khẳng định: “Tôi có quyền hy sinh mạng sống mình và có quyền lấy lại nó”. Lời này ám chỉ Đức Giê-su sẽ chiến thắng sự chết. Biến cố Phục Sinh làm cho Người trở thành mục tử duy nhất. Người đang sống. Chính Người bảo vệ đàn chiên, ban sự sống đích thực cho đàn chiên và làm cho đàn chiên được sống dồi dào (10,10).

Nhưng tại sao Đức Giê-su lại hướng về sự chết khi khẳng định ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Mục tử tốt hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên” (10,11)? Trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng thứ tư, đoạn văn 10,11-18 ở vào cuối sứ vụ công khai, những kẻ chống đối Đức Giê-su đã và đang tìm cách giết Người; sứ vụ công khai của Đức Giê-su đang dần dần khép lại. Vì thế, đoạn văn 10,11-18 nhằm xác định vai trò của Đức Giê-su đối với những ai tin vào Người. Người là mục tử tốt, Người tự ý hy sinh mạng sống mình và Người có quyền lấy lại nó. Nhờ đó, Người có khả năng ban sự sống cho đàn chiên.

Bầu khí xung đột bộc lộ trong cách Đức Giê-su dùng hình ảnh “người làm thuê”. Ai là những kẻ làm thuê? Tin Mừng cho phép hiểu Đức Giê-su ám chỉ giới lãnh đạo Do Thái đang tìm cách giết Người, đó là những người Do Thái, những người Pha-ri-sêu, các thượng tế, họ là những người được giao nhiệm vụ chăn dắt dân. Các sách Cựu Ước gọi họ là mục tử, nhưng Đức Giê-su tước mất quyền đó khi nói: “Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình… Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên” (10,12-13).

Chính trong bối cảnh những kẻ chống đối đang tìm cách giết Đức Giê-su mà Người nói đến việc “hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Hoa trái của sự “hy sinh và lấy lại mạng sống” này là phổ quát. Vì qua đó, Đức Giê-su quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về thành một đàn chiên, một mục tử (10,16; 11,52).

“Một đàn chiên, một mục tử” (10,16) là khẳng định thần học quan trọng, mà nhiều lúc những người có nhiệm vụ chăn dắt xem nhẹ. Cuối Tin Mừng Gio-an (21,15-17), ba lần Đức Giê-su hỏi Phê-rô: “Anh có yêu mến Thầy không?”, chỉ sau khi Phê-rô trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giê-su mới trao sứ vụ chăn dắt: “Anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”.

Kiểu hành văn này cho thấy: Đàn chiên, bao gồm mọi người tin, là của Đức Giê-su. Các chủ chăn trong Hội Thánh là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt và chăm sóc đàn chiên của Người. Đàn chiên là của Đức Giê-su chứ không phải của bất kỳ ai khác.

Câu hỏi đặt ra: Để có thể chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su phải có điều kiện nào? Ngoài những đòi hỏi mang tính pháp lý như được huấn luyện, lãnh tác vụ, điều cốt lõi là “tình yêu dành cho Đức Giê-su”. Ba lần, Phê-rô tuyên xưng tình yêu dành cho Đức Giê-su trước, sau đó mới được Người giao sứ vụ chăn dắt. Như thế, tình yêu dành cho Đức Giê-su là nền tảng làm nên bản chất của người chăn dắt. Có thể nói, khi người chăn dắt không thực sự yêu mến Đức Giê-su nữa, thì ngay lúc đó, người ấy không còn tư cách để chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su nữa. Bởi vì, chính tình yêu dành cho Đức Giê-su là bản chất và là căn tính của sứ vụ chăn dắt.

Thánh Augustinô diễn giải lời Đức Giê-su nói với Phê-rô ở Ga 21,15-17 như sau: “Nếu anh yêu mến Thầy, anh đừng nghĩ anh là mục tử; nhưng anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy, như chúng là của Thầy chứ không phải như chúng là của anh; anh hãy tìm kiếm nơi đàn chiên vinh quang của Thầy chứ không phải vinh quang của anh; sở hữu của Thầy, chứ không phải sở hữu của anh, lợi ích của Thầy, chứ không phải lợi ích của anh.”

Xin cho sứ điệp của bài Tin Mừng giúp chúng ta sống đúng vị trí và vai trò của mình khi tham gia vào nhiệm vụ chăn dắt ở nhiều cấp độ khác nhau trong cộng đoàn Hội Thánh. Điều quan trọng hơn cả là “yêu mến Đức Giê-su” và từ đó chăn dắt đàn chiên được giao phó bằng chính tình yêu mà Đức Giê-su là vị mục tử duy nhất đã dành cho mình và dành cho đàn chiên của Người./. 

Ngày 24 tháng 11 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

14 novembre 2010

Lc 19,1-10: Da-kêu vừa cao vừa thấp

Cây sung ở Giê-ri-khô [ngày 11/11/2007]

Da-kêu “cao” mà “thấp”, “thấp” mà “cao”
Lc 19,1-10
Bản văn Lc 19,1-10 (bản dịch NPDCGKPV)
1 Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy.
2 Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.
3 Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn.
4 Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó.
5 Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!"
6 Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.
7 Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!"
8 Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."
9 Đức Giê-su mới nói về ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.
10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."

Chia sẻ

Câu chuyện Da-kêu quá quen thuộc, nhưng lại là  một bức tranh sống động, phong phú, tinh tế và là lời chất vấn và mời gọi qua mọi thời đại. Trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua Giê-ri-khô và  xảy ra câu chuyện ông Da-kêu với những nét tương phản hài hước và độc đáo. Nhân vật chính được giới thiệu qua bốn chi tiết: (1) Tên gọi: Da-kêu, (2) Nghề nghiệp: Đứng đầu những người thu thuế, (3) Địa vị xã hội: Người giàu có, (4) Ngoại hình: thấp bé, ngôn ngữ bình dân gọi là lùn.

Trong câu chuyện, nhân vật Da-kêu có những nét tương phản vừa theo quan điểm người đời, vừa theo quan điểm tâm linh. Theo người đời, Da-kêu là người có địa vị, có quyền và có tiền, ba yếu tố này làm nên sức mạnh và uy thế của một con người. Ông ở cao hơn những người bình thường, nhưng ông lại thua kém họ về chiều cao, nên tầm nhìn bị thu hẹp và bị hạn chế. Ông muốn thấy Đức Giê-su, nhưng đám đông trở thành chướng ngại cho điều ông ước muốn. Tuy nhiên, con người không hơn nhau ở chiều cao mà hơn nhau ở cái đầu; Da-kêu quyết định thực hiện ước muốn thấy Đức Giê-su bằng cách trèo lên cây sung. Quyết định này tạo nên tương phản giữa việc ông đạt được mục đích là thấy Đức Giê-su, nhưng phải hy sinh thể diện. Một người có quyền hành và địa vị như ông mà lại leo lên cây sung, mượn cây sung để cải thiện chiều cao của mình, thì chẳng gì đề cao cái sự thấp bé của ông trước mọi người.

Đáng chú ý hơn là tương phản theo quan điểm tâm linh. Ông Da-kêu là người quyền thế trong xã hội, nhưng đám đông lại gọi ông là “người tội lỗi”, vì khi Đức Giê-su quyết định ở lại nhà ông, mọi người xầm xì: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Câu kết của Đức Giê-su: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” đã xếp Da-kêu vào loại những người đã mất, nhưng được Đức Giê-su cứu.

Tương phản trên bình diện tâm linh và cách xử sự của Da-kêu để xem thấy Đức Giê-su đã được Người đánh giá cao. Việc ông dám trở trên trò cười cho thiên hạ để tiếp cận được Đức Giê-su cho thấy thiện chí của ông. Nhờ hành động này, ông trở thành nhân vật chính của câu chuyện với những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Khi Đức Giê-su nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (19,5) Bản văn chơi chữ khi viết Đức Giê-su nhìn lên và bảo ông xuống, nghĩa là trở về với chiều cao đích thực của mình, trở về với con người thực của mình, để không những thấy Đức Giê-su mà còn để đối thoại với Người, để quyết định bán nửa tài sản cho người nghèo và đền gấp bốn cho những ai mình đã làm họ bị thiệt.

Điều mới mẻ so với trình thuật người thu thuế Lê-vi ở chỗ Lê-vi đã bỏ nghề thu thuế và đi theo Đức Giê-su, còn ông Da-kêu có bỏ nghề đứng đầu những người thu thuế hay không, bản văn không cho biết. Trình thuật chỉ nhấn mạnh tấm lòng của ông đối với người nghèo và việc ông chú trọng sự công bằng. Có thể hiểu Da-kêu có thể tiếp tục đứng đầu những người thu thuế mà vẫn được cứu. Điều quan trọng là ước muốn gặp Đức Giê-su, thực hiện ước muốn này, và khi gặp thì mừng rỡ đón tiếp Người.

Trình thuật nói đến sự gặp gỡ tốt đẹp giữa hai con người với hai sự tìm kiếm. Da-kêu tìm cách để thấy Đức Giê-su còn Đức Giê-su đang tìm và cứu những gì đã mất. Chính sự gặp gỡ giữa hai con người đang tìm kiếm này làm cho Da-kêu trở thành người được cứu và làm tỏ lộ sứ vụ của Đức Giê-su.

Điểm độc đáo của bản văn ở ngay trong trong cách trình bày nhân vật Da-kêu. Ông là người vừa thấp vừa cao. Cao về địa vị xã hội, nhưng thấp bé về chiều cao. Thấp bé thể lý nhưng cao quý trong thiện chí tìm gặp Đức Giê-su. Ông có quyền hành và giàu có trong xã hội nhưng bị coi là người tội lỗi, là người đã mất, cần được cứu. Nhân vật Da-kêu trở thành điển hình cho hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Đức Giê-su là Người mang lại ơn cứu độ cho ông.

Đầu câu chuyện, Da-kêu được giới thiệu như là người có mọi thứ: Chức vị, tiền bạc và quyền hành; nhưng ông đang thiếu và đang đi tìm cái mà tiền bạc và chức quyền không đem lại cho ông. Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, mục đích trước tiên là xem cho biết con người mà ông chưa biết.

Điểm độc đáo thứ hai là Đức Giê-su không dạy giáo lý cho Da-kêu, Người không bày tỏ tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ngược lại Người chỉ nói một câu tỏ bày sự thân thiện và ưu ái của Người dành cho ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.

Bài học cho chúng ta hôm nay là liệu sự ở lại của Đức Giê-su có khả năng làm cho chúng ta hoán cải, có khả năng làm cho chúng ta thuộc về Người, làm cho chúng ta biết chia sẻ với người nghèo và tôn trọng sự công bằng hay không. Câu chuyện Da-kêu vẫn là lời chất vấn, lời mời gọi chúng ta trong cách chúng ta tìm gặp và đón tiếp Đức Giê-su, trong cách chúng ta sống niềm tin và thể hiện niềm tin của mình./.

Ngày 14 tháng 11 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

6 novembre 2010

Ga 11,17-27: Đức Giê-su đem đến cho người tin điều lớn lao hơn cả việc La-da-rô ra khỏi mồ


Làng Bê-ta-ni-a [21.09.2007]

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 06 tháng 11 năm 2010.
Cập nhật ngày 20 tháng 04 năm 2014.


Đoạn Tin Mừng Ga 11,17-27 là một phần câu chuyện về anh La-da-rô bị bệnh chết, sau đó được Đức Giê-su gọi ra khỏi mồ (11,1-46). La-da-rô cùng với hai chị Mác-ta và Ma-ri-a là gia đình thân thiết với Đức Giê-su. Khi La-da-rô lâm bệnh, hai chị đã cho người đến báo, nhưng Đức Giê-su đã không đến cứu. Mác-ta và Ma-ri-a có ý trách, vì khi Đức Giê-su trở lại Bê-ta-ni-a, câu đầu tiên hai chị em nói với Người: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (11,21.32). Câu này nói lên sự tiếc nuối và ước mơ em mình được sống. Đức Giê-su làm cho La-da-rô sống lại là dấu lạ lớn lao và một trong những ý nghĩa của dấu lạ là Đức Giê-su đem đến cho người tin điều lớn lao hơn cả việc La-da-rô ra khỏi mồ. Tìm hiểu đối thoại giữa Đức Giê-su và Mác-ta cho thất điều này.

Người thuật chuyện kể ở Ga 11,17-27: “17 Khi đến nơi, Đức Giê-su nhận thấy anh ấy [La-da-rô] đã ở trong trong mồ bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem khoảng 15 dặm [2,8km]. 19 Nhiều người trong những người Do Thái đến với Mác-ta và Ma-ri-a để an ủi các cô về người em. 20 Vậy khi Mác-ta nghe rằng Đức Giê-su đến, cô ấy ra gặp Người. Còn Ma-ri-a ngồi ở nhà. 21 Mác-ta nói với Đức Giê-su: ‘Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 [Nhưng] bây giờ con biết rằng: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy.’ 32 Đức Giê-su nói với chị ấy: ‘Em chị sẽ sống lại.’ 24 Mác-ta nói với Người: ‘Con biết rằng em con sẽ sống lại, trong sự sống lại vào ngày sau hết.’ 25 Đức Giê-su nói với chị ấy: ‘Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống, 26 và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết. Chị có tin điều đó không?’ 27 Chị ấy nói với Người: ‘Thưa Thầy, có. Con vẫn tin rằng chính Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.’” (Trích dẫn lấy trong: Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt).

Trong nỗi đau mất mát đang đè nặng trên gia đình Mác-ta và bà con xóm giềng, bản văn thuật lại cuộc đối thoại quan trọng giữa Đức Giê-su và Mác-ta, nhưng lại là cuộc đối thoại “lệch pha”. Lệch pha vì Đức Giê-su nói một đàng, Mác-ta hiểu một nẻo. Tuy nhiên, nhờ sự lệch pha này mà người đọc bản văn hiểu được sứ điệp mặc khải. Có thể nói, sự chết của La-da-rô chỉ tay về cái chết thể lý của người tín hữu qua mọi thời đại, cũng như báo trước cái chết của mỗi người chúng ta. Trước bế tắc của sự chết, Đức Giê-su đem đến cho người tin điều không ai dám nghĩ tới, điều ấy còn lớn lao hơn cả việc La-da-rô sống lại. Điều lớn lao đó là gì?

Cần tìm hiểu sự lệch pha trong cuộc đối thoại để hiểu sứ điệp của bản văn. Mác-ta tuyên xưng niềm tin truyền thống vào sự sống lại ngày sau hết, nhưng đó không phải là điều Đức Giê-su muốn nói tới. Có ba chi tiết cho thấy sự lệch pha trong cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và Mác-ta:

(1) Thứ nhất, Đức Giê-su nói với Mác-ta: “Em chị sẽ sống lại” theo nghĩa “sẽ sống lại ngay bây giờ” thì Mác-ta lại hiểu là “sẽ sống lại trong ngày sau hết”. Mác-ta trả lời: “Con biết rằng em con sẽ sống lại, trong sự sống lại vào ngày sau hết” (11,24).

(2) Chi tiết lệch pha thứ hai là khi Đức Giê-su nói với chị: “Đem phiến đá này đi” (11,39a), Mác-ta từ chối và nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì đã bốn ngày” (11,39b). Mác-ta không hề nghĩ em chị sẽ sống lại bây giờ.

(3) Hai chi tiết trên cho thấy sự lệch pha thứ ba. Khi Đức Giê-su nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Chị có tin thế không?” (11,25-26), Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có.” Câu trả lời này lệch pha vì Mác-ta không hề nghĩ là người đã chết như La-da-rô lại có sự sống ngay bây giờ.

Để minh chứng cho lời mặc khải: “Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống” (11,25), Đức Giê-su đã gọi La-da-rô ra khỏi mồ. Đây là dấu lạ lớn lao, nhưng không đề cao sự sống thể lý, bởi vì La-da-rô sống lại để rồi lại chết vì sự sống lại của anh. Thực vậy, trong trình thuật tiếp theo, các thượng tế quyết định giết cả La-da-rô vì tại anh mà nhiều người đã tin vào Đức Giê-su (12,10-11).

Tóm lại, dấu lạ La-da-rô ra khỏi mồ là câu trả lời cho sự chết và sự sống của người tin. Bản văn mời gọi chúng ta xác tín hai điều: (1) “Ai sống và tin vào Đức Giê-su, sẽ không bao giờ phải chết” (11,26). (2) “Ai tin vào Đức Giê-su, dù đã chết cũng sẽ được sống” (11,25). Đây là sự sống Đức Giê-su ban tặng, sự sống đời đời, sự sống đích thực. Sự sống này làm cho cái chết trở thành giấc ngủ, như Đức Giê-su đã nói một cách nghịch lý với các môn đệ, sau khi La-da-rô đã chết: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; nhưng Thầy đi để đánh thức anh ấy.” (11,11).

Ước mong chúng ta xác tín và sống ngay bây giờ sự sống đích thực Đức Giê-su ban tặng cho những ai tin vào Người. Xem phân tích đề tài “chết” và “sống” của La-da-rô, của Đức Giê-su và của người tin (Ga 11,1-54), trong tập sách: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, trang  147-185./.