26 novembre 2011

“Tin mừng” trong “sách Tin Mừng” Mác-cô




Trong bốn sách Tin Mừng, danh từ “tin mừng” (euaggelion) xuất hiện 8 lần trong sách Tin Mừng Mác-cô (1,1.14.15; 8,35; 10,29; 13,10; 14,9; 16,15), xuất hiện 4 lần trong Tin Mừng Mát-thêu (Mt 4,23; 9,25; 24,14; 26,13) và không xuất hiện trong Tin Mừng Lu-ca và Tin Mừng Gio-an. Với số lần xuất hiện vượt trội so với các Tin Mừng khác, có thể “tin mừng” là đề tài quan trọng và đặc thù của Tin Mừng Mác-cô. Để tránh lầm lẫn, chúng tôi dùng thuật ngữ “Tin Mừng” (viết hoa) để chỉ bốn “sách Tin Mừng”. Từ “Tin Mừng” trong các kiểu nói “đọc Tin Mừng”, “học hỏi Tin Mừng”... được hiểu là bốn sách Tin Mừng (Mt, Mc, Lc, Ga). Ngoài nghĩa “sách Tin Mừng”, từ “tin mừng” còn có nghĩa khác; chúng tôi dùng từ “tin mừng” (viết thường) khi từ này không chỉ các sách Tin Mừng. Quan sát 8 lần từ “tin mừng” xuất hiện trong Tin Mừng Mác-cô có thể nói đến bốn nghĩa sau đây của danh từ “euaggelion”. (Các trích dẫn bản văn Mác-cô lấy trong Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt.)

1) Tin mừng của Đức Giê-su

Tác giả mở đầu sách Tin Mừng Mác-cô qua lời giới thiệu: “Khởi đầu tin mừng của Đức Giê-su Ki-tô [Con Thiên Chúa]” (Mc 1,1). Như thế, “tin mừng của Đức Giê-su Ki-tô (to euaggelion Iêsou Khistou)là tin mừng do chính Đức Giê-su rao giảng. Nội dung tin mừng ấy bao gồm lời nói, việc làm, cách sống, cách xử sự của Đức Giê-su.

Trong bốn sách Tin Mừng, kiểu nói “vì Đức Giê-su và vì tin mừng” chỉ xuất hiện 2 lần trong Tin Mừng Mác-cô (Mc 8,35; 10,29). Bối cảnh của hai lời này khác nhau. Mc 8,35 là một lời giáo huấn của Đức Giê-su mang tính phổ quát: “Ai muốn cứu mạng sống của mình, sẽ mất nó; nhưng ai sẽ mất mạng sống của mình vì Tôi, và vì tin mừng, sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,35). Ở Mc 10,29, Đức Giê-su hứa với các môn đệ: 29A-men, Thầy nói cho anh em: Không ai bỏ nhà cửa, hay anh em, chị em, mẹ, cha, con cái, ruộng đất, vì Thầy và vì tin mừng, 30mà không nhận được gấp trăm, bây giờ, trong thời gian này, nhà cửa và anh em, chị em, mẹ, con cái, ruộng đất, cùng với sự ngược đãi, và sự sống đời đời trong thời đang đến” (Mc 10,29-30). Kiểu nói “vì Đức Giê-su” (“vì Tôi”, “vì Thầy”) ám chỉ hành động “tin vào Đức Giê-su” và “trung tín với Người” cho đến cùng. Cụm từ tiếp theo “vì tin mừng” có thể hiểu là “vì tuân giữ giáo huấn của Đức Giê-su”, nghĩa là “vì sống theo tin mừng Đức Giê-su rao giảng” mà các môn đệ có thể bị bách hại, bị ngược đãi, bị mất mạng sống.

Tóm lại, nghĩa đầu tiên của từ tin mừng và cũng là nghĩa quan trọng trong Tin Mừng Mác-cô: “tin mừng” là “tin mừng của Đức Giê-su Ki-tô”, là “tin mừng Đức Giê-su rao giảng”.     

2) Tin mừng của Thiên Chúa

Lời tựa Tin Mừng Mác-cô cho biết nội dung lời rao giảng của Đức Giê-su như sau: “Sau khi Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến Ga-li-lê rao giảng tin mừng của Thiên Chúa (to euaggelion tou theou)” (1,14). Tin mừng của Thiên Chúa là tin mừng cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại qua biến cố Đức Giê-su đến thế gian giải thoát con người khỏi ách tội lỗi và sự chết.

3) Tin mừng của các môn đệ

Cụm từ “tin mừng của các môn đệ” hiểu theo nghĩa “tin mừng các môn đệ rao giảng”. Đức Giê-su nói về sứ vụ của các môn đệ như sau: “9Phần anh em, anh em hãy coi chừng, người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng và các hội đường; anh em sẽ bị đánh đòn và sẽ phải đứng trước quan quyền và vua chúa vì Thầy để làm chứng trước mặt họ. 10Và tin mừng phải được rao giảng trước tiên cho mọi dân tộc” (13,9-10). Cho dù trong hoàn cảnh khó khăn bách hại, tin mừng vẫn được rao giảng. Mc 16,15 (phần kết dài của sách Tin Mừng Mác-cô) nói rõ sứ vụ của các môn đệ là “rao giảng tin mừng”. Đức Giê-su nói với họ: “Anh em hãy đi khắp thế gian, rao giảng tin mừng cho mọi thụ tạo” (16,15).

Trong trình thuật người phụ nữ xức dầu thơm cho Đức Giê-su tại nhà ông Si-mon Cùi (Mc 14,3-9) Đức Giê-su nói với những kẻ gắt gỏng với cô ấy như sau: “8Điều cô ấy có, cô ấy đã làm, cô ấy đã xức dầu thơm thân thể Tôi trước để chuẩn bị mai táng. 9A-men, Tôi nói cho các ông: Tin mừng được loan báo ở đâu trong khắp thế gian, thì điều cô ấy vừa làm sẽ được kể lại để nhớ tới cô ấy” (14,8-9). Kiểu nói “tin mừng được loan báo ở đâu trong khắp thế gian” ám chỉ đến sứ vụ rao giảng tin mừng của các môn đệ thời Đức Giê-su; cũng như sứ vụ rao giảng tin mừng của Hội Thánh và của từng người tin qua mọi thời đại.

Tóm lại, như Đức Giê-su đã rao giảng tin mừng, các môn đệ cũng được Người trao phó sứ vụ rao giảng tin mừng. Các môn đệ rao giảng về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giê-su. Nhờ các môn đệ (13,10) tin mừng được rao giảng cho mọi loài thọ tạo (16,15) và tin mừng sẽ lan rộng khắp nơi qua dòng thời gian (14,9). Cụ thể lời rao giảng tin mừng của các môn đệ được thuật lại trong sách Công Vụ, trong các thư Phao-lô và trong một số sách khác của Tân Ước.

4) Tin mừng là chính Đức Giê-su

Người thuật chuyện kết thúc Lời tựa sách Tin Mừng Mác-cô (1,1-15) bằng cách thuật lại lời rao giảng của Đức Giê-su: “14Sau khi Gio-an bị nộp, Đức Giê-su đến Ga-li-lê rao giảng tin mừng của Thiên Chúa. 15Người nói rằng: “Thời gian đã viên mãn, và Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và hãy tin vào tin mừng” (Mc 1,14-15). Lời mời gọi “hãy sám hối và hãy tin vào tin mừng” tóm kết mục đích toàn bộ sách Tin Mừng Mác-cô. “Tin” là đề tài chính của sách Tin Mừng, mục đích giáo huấn của Đức Giê-su là để thính giả và độc giả “Tin vào Đức Giê-su” để được sống. Vì thế, kiểu nói “tin vào tin mừng” có thể hiểu là “tin vào Đức Giê-su”. Do đó, song song với 1,14, có thể hiểu “Đức Giê-su là tin mừng”. Chính Đức Giê-su là “tin mừng của Thiên Chúa” (1,14) dành cho nhân loại.

Kết luận

Những quan sát trên cho thấy danh từ “tin mừng” (euaggelion) xuất hiện 8 lần trong Mác-cô là đề tài quan trọng và hàm ẩn nhiều ý nghĩa phong phú và độc đáo. Tin Mừng Mác-cô dùng từ “tin mừng” (euaggelion) để nói đến bốn ý nghĩa: (1) “Tin mừng của Đức Giê-su”, (2) “Tin mừng của Thiên Chúa”, (3) “Tin mừng của các môn đệ”, (4) “Tin mừng là chính Đức Giê-su”. Từ “tin mừng” được dùng để nói về nhiều thực tại khác nhau, nhưng chỉ có một “tin mừng” duy nhất, đó là “TIN MỪNG CỦA THIÊN CHÚA” (1,14), tin mừng đó chính là Đức Giê-su (1,15), đó là tin mừng Đức Giê-su rao giảng (1,1). Khi các môn đệ rao giảng tin mừng của Đức Giê-su cũng là rao giảng tin mừng của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Nội dung các sách Tin Mừng là thuật lại tin mừng của Thiên Chúa được trình bày qua Đức Giê-su. Hội Thánh không ngừng nỗ lực sống tin mừng và rao giảng tin mừng cho nhân loại. Như thế, có thể nói đến năm nghĩa của từ “tin mừng” (euaggelion): bốn nghĩa trong Tin Mừng Mác-cô như đã phân tích trên đây và nghĩa thứ năm là các sách “Tin Mừng”./.

Ngày 27 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
email: josleminhthong@gmail.com 

25 novembre 2011

H/Đ.PP. Có đoạn văn hay nhất trong Kinh Thánh không?


Hỏi:
Sau khi phân tích một đoạn văn, độc giả có thể nói đây là đoạn văn hay nhất được không?


Để đưa ra nhận định: “Đây là đoạn văn hay nhất”, chắn chắn độc giả đã dày công làm việc, áp dụng phương pháp học hỏi để phân tích đoạn văn. Từ đó độc giả đã khám phá ra những nét hay, nét độc đáo của bản văn, đã tìm ra phần nào ý nghĩa của bản văn, đã áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống của độc giả và cảm thấy điều đó là thú vị.

Cảm nhận đoạn văn mình đang phân tích là “đoạn văn hay nhất” là một bước tiến lớn trong quá trình ứng dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào việc đọc Kinh Thánh. Có thể hiểu “hay nhất” ở đây là so với những gì độc giả đã đọc và đã hiểu từ trước cho đến lúc bấy giờ. Tuy nhiên, xét về phương pháp có thể mở rộng cái “hay” đến các đoạn văn khác. Nhờ đó độc giả sẽ cảm nhận được rằng: Đọc Kinh Thánh là một tiến trình suốt cả cuộc đời và còn nhiều điều hay, thú vị và độc đáo khác đang chờ đợi mình. Sau đây là hai ý giúp mở rộng cái “hay” của bản văn:

1) Có ba cấp độ so sánh: so sánh bằng (A = B), so sánh hơn (A cao/thấp hơn B), so sánh cấp cao nhất (A cao/thấp nhất). Nếu chưa phân tích kỹ các đoạn văn khác thì làm sao có thể so sánh được?

2) Thực ra không thể nói đoạn văn này hay hơn đoạn văn khác, vì mỗi đoạn văn vẽ lên một bức tranh độc đáo riêng. Mỗi đoạn văn đều có những chi tiết, những ý tưởng, những từ ngữ, và nhất là cách kể câu chuyện riêng biệt. Không một đoạn nào hoàn toàn giống một đoạn văn khác.

Chẳng hạn, năm đoạn văn về Đấng Pa-rác-lê trong Ga 14–16 là năm bức tranh độc đáo riêng. Năm bức tranh ấy làm nên đề tài “Đấng Pa-rác-lê trong Tin Mừng Gio-an”. Đây là đề tài hay và độc đáo riêng của Tin Mừng Gio-an, nhưng không thể nói đề tài này “hay hơn” hoặc “hay nhất” so với các đề tài khác. Bởi vì đề tài khác như “yêu và ghét”, “ánh sáng và bóng tối”… đều là những đề tài “rất quan trọng” và “rất hay” trong Tin Mừng Gio-an.

Tóm lại, có thể nói tất cả các đoạn văn đều hay, đều độc đáo. Còn có nhiều điều “hay” đang chờ độc giả khám phá. Tuy nhiên, có thể nói “thích đoạn văn này hơn đoạn văn khác”. Sở thích mang tính chủ quan, nên có thể so sánh để diễn tả sở thích riêng của mình. Tôi thích đoạn văn này hơn đoạn văn kia vì đoạn văn này phù hợp với ưu tư và tìm kiếm của tôi hơn...

Ước mong độc giả sau khi khám phá ra “nét hay”, “nét đẹp” của một đoạn văn sẽ mong muốn lên đường tìm hiểu và phân tích những đoạn văn khác. Dần dần độc giả sẽ nhận thấy rằng Kinh Thánh là một kho tàng và mỗi đoạn văn là một viên ngọc quý trong kho tàng ấy./.      


Ngày 27 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

19 novembre 2011

“Chia rẽ và hiệp thông” – “sự thật và dối trá” trong thư thứ nhất Gio-an


  
Nội dung

1. Dẫn nhập
2. Quan sát từ ngữ
3. Phân rẽ giữa cộng đoàn
4. Sự thật và dối trá
5. “Thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm”
6. Mời gọi “hiệp thông” và “làm sự thật”
7. Kết luận

16 novembre 2011

H/Đ-BV. Cấu trúc Ga 13–17


Hỏi:
 Có thể cấu trúc Ga 13–17 như dưới đây được không?
I. Dẫn nhập: 13,1: Đức Giêsu biết “giờ” của Người đã đến.
II. 13,2–16,33: Khủng hoảng và giải pháp để vượt qua khủng hoảng.
   1) 13,2–15,17: Khủng hoảng trong nội bộ các môn đệ và giải pháp.
   2) 15,18–16,4a: Khủng hoảng đến từ bên ngoài và giải pháp.
   3) 16,4b–16,33: Khủng hoảng vì Đức Giê su ra đi và giải pháp.
III. Kết thúc: Ga 17: Đức Giêsu ngỏ lời với Chúa Cha trước sự hiện diện của các môn đệ.

Phân chia “Đoạn văn Ga 15,18–16,4a: Khủng hoảng đến từ bên ngoài và những giải pháp” là chưa đủ, vì sự đối lập giữa các môn đệ với thế gian thù ghét đã xuất hiện trong Ga 14. Do đó, Ga 13,2–15,17 không chỉ là khủng hoảng nội bộ mà thôi. Đối lập “thế gian thì ghét - môn đệ” còn xuất hiện cuối chương 16 và giữa chương 17 nữa. Vì vậy, cấu trúc trên chưa nói lên được cách trình bày độc đáo của bản văn.

Đề nghị chia cấu trúc Ga 13–17 thành 2 phần lớn: Ga 13–14 và Ga 15–17 (Xem lý do trong trả lời liên hệ giữa Ga 14,31; 15,1 và 18,1 trên đây [01.H/Đ-BV. Ga 14,31; 18,1]). Trong phần Ga 15–17, chương 17 được tách ra vì Đức Giê-su ngỏ lời với Cha, không còn nói trực tiếp với các môn đệ nữa. Có thể cấu trúc Ga 13–17 theo đề nghị trong phần trích đoạn của cuốn sách Bản văn Gio-an TIM MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt.

Trong phần lý giải cấu trúc, chú ý 3 chi tiết: (1) 13,1 mở đầu chung cho Ga 13–17. (2) 14,31 kết thúc Ga 13–14 và (3) Ga 16,33 kết thúc đoạn văn 16,4b-32 và cũng là kết thúc của Ga 15–16. Xem trình bày về cấu trúc Ga 13–16 trong KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư.
Ngày 17 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

12 novembre 2011

H/Đ-BV. Ga 15,15b: “Làm cho biết”


Hỏi:
Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 15,15b: “Thầy gọi anh em là bạn hữu,vì tất cả những gì Thầy nghe nơi Cha của Thầy,Thầy đã làm cho anh em biết”, (1) Tại sao Đức Giê-su đang “nói cho anh em biết” mà bản văn lại viết “làm cho anh em biết”? (2) Có phải câu này có hai động từ: “làm” và “biết” hay không?

(1) Đúng là trong mạch văn, Đức Giê-su đang nói với các môn đệ, nhưng kiểu nói “làm cho anh em biết” có nghĩa rộng hơn. Trong câu 15,15, điều làm cho các môn đệ trở thành “bạn hữu của Đức Giê-su” là vì tất cả những gì Đức Giê-su nghe nơi Cha của Người, Người đã làm cho các môn đệ biết. Kiểu nói “làm cho biết tất cả” này đã tóm kết toàn bộ sứ vụ của Đức Giê-su. Không chỉ mặc khải bằng lời nói, Đức Giê-su “làm cho các môn đệ biết” bằng chính cuộc đời của Người. Lời nói, giáo huấn, tranh luận, hành động, các dấu lạ và cách ứng xử của Đức Giê-su là cách thức Người “làm cho các môn đệ biết”. Người làm cho biết Chúa Cha, biết Đức Giê-su và biết con người phải làm gì để có sự sống đời đời. Xem phân tích Ga 15,15 trong Tình yêu và tình bạn trong Ga 15,9-17.

(2) Trong cụm từ “làm cho anh em biết” không phải là có hai động từ “làm” và “biết” mà chỉ có một động từ: “làm cho biết” (gnôrizô). Động từ này liên hệ với hai động từ Hy Lạp khác có nghĩa là “biết”: ginôskô và oida. Động từ “làm cho biết” (gnôrizô) chỉ xuất hiện 3 lần trong Tin Mừng Gio-an (15,15; 17,26a.26b) nhưng diễn tả ý tưởng thần học quan trọng. Thực vậy, Đức Giê-su đã làm cho các môn đệ biết tất cả những gì Người nghe nơi Cha của Người, nghĩa là vào cuối sứ vụ công khai, Đức Giê-su đã trao ban tất cả mặc khải cho các môn đệ, Người đã hoàn thành sứ vụ Cha giao phó (15,15). Tuy nhiên, sứ vụ “làm cho biết” này chưa kết thúc, vì trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su ngỏ lời với Cha của Người như sau: “Con đã làm cho họ biết (egnôrisa) danh của Cha, và Con sẽ còn làm cho họ biết (gnôrisô), để tình yêu mà Cha đã yêu mến Con ở trong họ và Con trong họ.” Như thế, sau khi Đức Giê-su về với Cha, Người vẫn tiếp tục làm cho các môn đệ biết, vẫn tiếp tục dạy các môn đệ qua Đấng Pa-rác-lê như Người đã nói với các môn đệ ở 14,26: “Đấng Pa-rác-lê (paraklêtos) sẽ dạy anh em tất cả và sẽ làm cho anh em nhớ lại tất cả những gì [chính] Thầy đã nói với anh em.” Xem vai trò của Đấng Pa-rác-lê Thần khí sự thật trongTin Mừng thứ tư.
 
Ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
  

11 novembre 2011

Tìm hiểu Tin Mừng Gio-an




Bài viết theo đoạn văn và theo đề tài

THEO ĐOẠN VĂN

- Ga 1,1-13. LỜI (LOGOS) là sự sống, là ánh sáng cho loài người.
- Ga 1,6-8.19-28: Làm chứng về Ánh Sáng và giới thiệu Đức Giê-su cho mọi người.



THEO ĐỀ TÀI

Ánh sáng - bóng tối. Ngày - đêm
Bánh

Biết 

Gio-an Tẩy Giả

Giu-đa

Hôn nhân và gia đình
- Hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng Gio-an.

La-da-rô

Ma-ria Mác-đa-la



Nhị nguyên

Nước

Ni-cô-đê-mô

Pa-rác-lê (Paraklêtos)

Phi-la-tô


Ta là (egô eimi) 

Thần khí (pneuma)

Thương Khó và Phục Sinh

Tin

Tình yêu, tình bạn

Xa-tan, quỷ

  

Phương Pháp và kỹ thuật hành văn



Sách

Bài viết:

Tổng quát
- Dàn bài tiểu luận.

Tin Mừng Gio-an

Tin Mừng Mát-thêu
Tin Mừng Lu-ca

Sách Khải Huyền


List of articles on the Holy Land

10 novembre 2011

List of articles on the Synoptic Gospels


- Relationships between the Synoptic Gospels.
- Mk 10:17-31. Leaving everything to receive a hundredfold.
- Lk 11:37-41. Inside and Outside Cleanliness.
- Lk 12:10. Against the Son of Man and against the Holy Spirit.



List of articles on the Gospel of John

Liste des articles sur l’archéologie de la Terre Sainte



- Le système d’eau lié à la source de Gihôn et à la piscine de Siloé.

- Le systèe d’eau de la Cité de David, Jérusalem (Le système de Warren).

- Le canal des Cananéens (le canal II) et le tunnel d’Ézéchias (le tunnel VIII) de la Cité de David, Jérusalem.

- Les piscines de Siloé, l’esplanade de la grande piscine, la rue en escalier et le canal de drainage de la Cité de David.


Liste des articles sur les Épîtres de Jean

Hình ảnh Ein Avdat, Negev, Israel


Để ghi nhớ khoảng khắc có một không hai trong dòng chảy thời gian: 11 giờ, 11 phút, 11 giây, ngày 11, tháng 11, năm 2011, thế kỷ 21,
xin mời độc giả viếng thăm thắng cảnh thiên nhiên hùng vĩ
của vùng đất khai sinh Do Thái giáo và Ki-tô giáo 
qua một số hình ảnh về Ein Avdat, 
trong hoang mạc Negev, Israel ngày nay. 

Hình số 01 và số 02 lấy trong Google Maps. 
Các hình số 03, 14, 15 lấy trên Internet, 
trong đó hình 14 và 15 minh hoạ thác nước sau khi xảy ra mưa lớn. 
16 tấm hình còn lại chụp ngày 24 tháng 10 năm 2007
trong chuyến du khảo của các sinh viên 
trường Kinh Thánh và Khảo Cổ của Pháp tại Giê-ru-sa-lem
(l’École Biblique et Archéologique Française à Jérusalem).




01. Vị trí địa danh Ein Avdat, Negev, tại Israel


02. Ein Avdat, Negev nhìn từ trên không (Google Maps)


03. Ein Avdat, Negev nhìn từ xa


04. Đường vào Ein Avdat


05. Dòng suối giữa hẻm núi Avdat, 
xem bìa cuốn sách: Phân tích THUẬT CHUYỆN và CẤU TRÚC


06. Thực vật giữa hẻm núi Avdat


07. Thực vật giữa hẻm núi Avdat


08. Thực vật giữa hẻm núi Avdat và hai sinh viên


09. Thực vật giữa hẻm núi Avdat


10. Dòng thác giữa hẻm núi Avdat vào tháng 10


11. Dòng thác giữa hẻm núi Avdat


 12. Phía trên thác nước 


13. Phía trên thác nước, 
xem bìa trước cuốn sách: Cú pháp Hy Lạp Tân Ước


 14. Thác nước sau cơn mưa lớn


 15. Thác nước sau cơn mưa lớn


16. Cây cỏ cạnh dòng suối


 17. Sơn dương sống trong hẻm núi, 
xem bìa sau cuốn sách: Cú pháp Hy Lạp Tân Ước


18. Sơn dương sống trong hẻm núi


 19. Hẻm núi Avdat nhìn từ phía trên


 20. Hẻm núi Avdat nhìn từ phía trên


 21. Hẻm núi Avdat nhìn từ phía trên 


Hành trình khoảng 4-5 giờ đi bộ dọc theo hẻm núi, sau đó leo dốc thẳng đứng để lên phía trên và ra khỏi Ein Avdat.



Ngày 11 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
email: josleminhthong@gmail.com