26 février 2012

Tiếng La Tinh trong Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp





Như đã trình bày trong bài viết: Tác giả, nơi biên soạn, độc giả, niên biểu và tài liệu biên soạn Tin Mừng Mác-cô (Tin Mừng thứ hai), một trong những đặc điểm của Tin Mừng Mác-cô là có nhiều từ gốc La Tinh. Bài viết này sẽ liệt kê một số từ ngữ La Tinh xuất hiện trong Tin Mừng Mác-cô. Những từ này được tác giả sách Tin Mừng chuyển âm sang tiếng Hy Lạp, vì Tin Mừng Mác-cô được viết bằng tiếng Hy Lạp (xem C. FOCANT, L’évangile selon Marc, (CB.NT 2), Paris, Le Cerf, 2004, n. 2, p. 35-36).

Có thể xếp những “từ gốc La tinh” và “từ ngữ dịch từ La Tinh sang Hy Lạp” trong Tin Mừng Mác-cô thành bốn loại:
1) Chuyển âm các từ ngữ La Tinh sang Hy Lạp.
2) Dịch tiếng La Tinh sang tiếng Hy Lạp.
3) Dùng một số kiểu nói La Tinh.
4) Giải thích bằng tiếng La Tinh.

1. Chuyển âm từ La Tinh phổ thông sang Hy Lạp

Trong Tin Mừng Mác-cô, có nhiều từ La Tinh được tác giả sách Tin Mừng chuyển âm sang tiếng Hy Lạp. Chẳng hạn, từ “chõng” (krabattos) trong trình thuật Đức Giê-su tha tội và chữa lành người bại liệt (Mc 2,1-12). Đức Giê-su nói với người bại liệt ở Mc 2,11-12: “‘11Ta bảo con, hãy đứng dậy, hãy vác lấy chõng (ton krabatton) của con và hãy đi về nhà của con.’ 12Anh ta trỗi dậy và lập tức vác chõng (ton krabatton) đi ra trước mặt mọi người, khiến mọi người sửng sốt và tôn vinh Thiên Chúa. Họ nói rằng: ‘Chúng ta chưa bao giờ thấy như thế’.” (Xem bản dịch Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt). Trong đoạn văn Mc 2,1-12, xuất hiện 4 lần từ “chõng” (krabattos) ở 2,4.9.11.12. Từ Hy Lạp: “krabattos” được chuyển âm từ tiếng La Tinh “grabatus”. 

Trong câu chuyện Đức Giê-su giải thoát người bị quỷ ám ở Ghê-ra-sa (Mc 5,1-20), xuất hiện 2 lần từ “đạo binh” (legiôn) ở Mc 5,9.15. Đức Giê-su hỏi người bị thần ô uế nhập: “Tên ngươi là gì?”, nó nói với Người: “Tên tôi là đạo binh (legiôn), vì chúng tôi đông lắm” (Mc 5,9). “Đạo binh” là một đơn vị khoảng 6.000 lính Rô Ma. Từ “đạo binh” tiếng La Tinh: “legio”, chuyển âm sang tiếng Hy Lạp: “legiôn”.

Bảng dưới đây liệt kê một số từ La Tinh được chuyển âm sang tiếng Hy Lạp trong Tin Mừng Mác-cô. Những từ có dấu * trong các bảng cho biết các từ này chỉ xuất hiện trong Tin Mừng Mác-cô mà thôi, không xuất hiện trong các sách Tin Mừng khác.



2. Dịch các từ La Tinh sang Hy Lạp

Loại thứ hai là dịch từ tiếng La Tinh sang Hy Lạp. Chẳng hạn từ “họp bàn” xuất hiện 2 lần trong Tin Mừng Mác-cô ở 3,6; 15,1. “Họp bàn” tiếng La Tinh là “consilium” được dịch sang tiếng Hy Lạp: sumboulion.

Từ Hy Lạp “pugmê”, có nghĩa “nắm tay”, “quả đấm” (fist) ở Mc 7,3, có thể hiểu nhiều cách khác nhau. Cụm từ “pugmê vipsôntai tas kheiras” (Mc 7,3) được dịch:
1) NPD/CGKPV, TOB, NAB: “Rửa tay cẩn thận” (se laver soigneusement les mains, carefully washing their hands).
2) JB, NJB: “Rửa tay cho đến cùi chỏ” (se laver les bras jusqu'au coude, washing their arms as far as the elbow).
3) NIV: “Rửa tay theo nghi thức” (give their hands a ceremonial washing).
4) NJK: “Rửa tay của họ theo cách thức riêng” (they wash their hands in a special way)…
Chúng tôi tạm dịch từ “pugmê” là “cẩn thận”. Từ La Tinh tương ứng với “pugmê” là “pugno” hay “pugillo”.
       


3. Chuyển “kiểu nói La Tinh” sang tiếng Hy Lạp

Loại thứ ba là dịch những kiểu nói La Tinh sang Hy Lạp. Kiểu dịch “từng chữ” (mot à mot) La Tinh sang Hy Lạp này làm cho câu văn không phải là kiểu hành văn theo văn chương Hy Lạp.



4. Giải thích bằng tiếng La Tinh (chuyển âm Hy Lạp)

Trong Tin Mừng Mác-cô, có hai chỗ (12,42; 15,16) tác giả giải thích bằng tiếng La Tinh chuyển âm Hy Lạp:


“Tiền kẽm” (La Tinh: leptes, Hy Lạp: lepta) chuyển thành tiền Rô Ma là “đồng xu” (La Tinh: quadrans, chuyển âm Hy Lạp: kodrantês). Giải thích này giúp độc giả thời đó (độc giả của sách Tin Mừng Mác-cô) hiểu trị giá số tiền bà goá bỏ vào thùng dâng cúng.

Từ Hy Lạp “sân dinh” (aulê) được giải thích bằng tiếng La Tinh: proetorium (dinh tổng trấn), chuyển tự Hy Lạp “praitôrion”.

Không tìm thấy trường hợp ngược lại trong Tin Mừng Mác-cô: Dịch nghĩa một từ La Tinh sang Hy Lạp. Điều này cho thấy độc giả quen thuộc với tiếng La Tinh.


Tóm lại, tuy bản văn Tin Mừng Mác-cô được viết bằng tiếng Hy Lạp, nhưng có thể nhận ra trong bản văn dấu ấn của tiếng La Tinh. Ảnh hưởng tiếng La Tinh trong Tin Mừng Mác-cô có thể được xếp thành bốn loại: (1) Nhiều từ La Tinh được chuyển âm sang Hy Lạp. (2) Dịch từ tiếng La Tinh sang tiếng Hy Lạp. (3) Chuyển các kiểu nói La Tinh sang tiếng Hy Lạp. (4) Giải thích trong bản văn bằng tiếng La Tinh chuyển âm sang Hy Lạp. Đặc điểm văn chương này cho phép nghĩ rằng Tin Mừng Mác-cô được viết trong môi trường văn hoá Hy Lạp và La Tinh. Tác giả và độc giả sách Tin Mừng Mác-cô quen thuộc với tiếng La Tinh nên xuất hiện nhiều từ ngữ gốc La Tinh trong Tin Mừng thứ hai này./.


Ngày 26 tháng 02 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com


19 février 2012

Tác giả, nơi biên soạn, độc giả, niên biểu và tài liệu biên soạn Tin Mừng Mác-cô (Tin Mừng thứ hai)

 

Nội dung

Dẫn nhập
I. Tác giả sách Tin Mừng thứ hai
     1. Gio-an Mác-cô
     2. Mác-cô (không phải là Gio-an Mác-cô)
     3. Tác giả dựa vào sách Tin Mừng
II. Nơi biên soạn Tin Mừng thứ hai
III. Độc giả sách Tin Mừng thứ hai
IV. Niên biểu sách Tin Mừng Mác-cô
V. Nguồn tài liệu để biên soạn các sách Tin Mừng
     1. Giả thuyết “hai nguồn văn”
     2. Giả thuyết Mt và Lc có các nguồn riêng
     3. Giả thuyết “ba nguồn văn”
     4. Giả thuyết “nhiều nguồn văn”
     5. Giả thuyết của P. BENOIT và M.-É. BOISMARD
Kết luận



Dẫn nhập

Sách “Tin Mừng Mác-cô” còn được gọi là “Tin Mừng thứ hai”, vì sách này ở vị trí thứ hai trong bốn sách Tin Mừng (Mt – Mc – Lc – Ga) và vì nội dung sách Tin Mừng này không nói rõ Mác-cô là tác giả (xem phân tích trong nội dung bài viết). Cũng trong chiều hướng này, sách “Tin Mừng Gio-an” được gọi là “Tin Mừng thứ tư”, vì nội dung sách Tin Mừng Gio-an không nói rõ là Gio-an là tác giả, xem bài viết: Ai là tác giả sách Tin Mừng Gio-an?

Bài viết này tìm hiểu một số vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành sách Tin Mừng thứ hai (Tin Mừng Mác-cô). Những câu hỏi đặt ra: Tin Mừng thứ hai do ai viết (tác giả thực sự), viết cho ai (độc giả thực sự), viết ở đâu (nơi biên soạn), viết lúc nào (niên biểu) và dựa vào tài liệu nào để viết sách Tin Mừng (tài liệu nguồn)? Kết quả nghiên cứu liên quan đến những câu hỏi này phần lớn dựa vào truyền thống và dựa trên các giả thuyết. Có nhiều lập trường và quan điểm khác nhau sẽ được trình bày sơ lược sau đây.

Cần phân biệt khái niệm “tác giả thực sự” và “độc giả thực sự” với “tác giả tiềm ẩn” và “độc giả tiềm ẩn”, xem giải thích trong tập sách: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư. Những phác hoạ lịch sử biên soạn Tin Mừng thứ hai, giúp hiểu biết phần nào bối cảnh lịch sử hình thành sách Tin Mừng. Tuy nhiên, đây là những vấn đề phức tạp, càng đi sâu vào chi tiết, càng nhiều tranh luận, bởi vì có nhiều giả thuyết khác nhau. Vì thế, không nên đi sâu vào những cuộc tranh luận, điều quan trọng là tìm hiểu khái quát những vấn đề trên, sau đó tập trung tìm hiểu nội dung mặc khải trong sách Tin Mừng thứ hai. Nghĩa là đọc chính bản văn Tin Mừng Mác-cô và tìm hiểu xem câu chuyện nói gì và nói như thế nào để lĩnh hội thông điệp mà bản văn Tin Mừng muốn chuyển tải đến người đọc qua mọi thời đại.

Ngày nay, các tranh luận về vấn đề “tác giả thực sự” không còn quan trọng nữa. Bởi lẽ cho dù ai viết sách Tin Mừng thứ hai đi nữa thì cũng không làm thay đổi nội dung mặc khải trong sách Tin Mừng này. Giá trị mặc khải của sách Tin Mừng thứ hai (Tin Mừng Mác-cô) đã được Hội Thánh xác nhận bằng cách nhận vào Quy Điển các sách Tân Ước. Những phân tích sau đây phác hoạ phần nào môi trường xuất hiện sách Tin Mừng thứ hai, đồng thời cho thấy sự phức tạp của các vấn đề liên quan đến lịch sử.

I. Tác giả sách Tin Mừng thứ hai

Ai là tác giả sách Tin Mừng thứ hai? Có thể trả lời câu hỏi này bằng cách dựa vào truyền thống hay dựa vào chính bản văn Tin Mừng. Nói chung có ba cách trả lời: 1. Gio-an Mác-cô. 2. Mác-cô nhưng không phải là Gio-an Mác-cô. 3. Tác giả theo sách Tin Mừng.

     1. Gio-an Mác-cô

Trong Tân Ước, nhân vật Gio-an Mác-cô được nói đến trong Công vụ Tông Đồ (Cv 12,12.25; 15,37.39). Mẹ của Gio-an Mác-cô có một ngôi nhà ở Giê-ru-sa-lem (Cv 12,12). Gio-an Mác-cô đã đồng hành với Ba-na-ba và Phao-lô trong chuyến hành trình truyền giáo thứ nhất (Cv 12,25; 13,5.13). Sau đó Gio-an Mác-cô chia tay Phao-lô và đi truyền giáo với Ba-na-ba (15,37.39). Tân Ước còn nói tới nhân vật Mác-cô là người giúp đỡ Phê-rô (1Pr 5,13); Mác-cô cộng sự viên của Phao-lô (2Tm 4,11; Plm 1,24) và Mác-cô em họ của Ba-na-ba (Col 4,10).

“Gio-an Mác-cô” và “Mác-cô” trong Tân Ước là một, là hai hay là nhiều nhân vật khác nhau? Tình trạng bản văn không nói rõ. Một số tác giả cho rằng, những lần tên gọi Mác-cô xuất hiện trong Tân Ước có thể là nhiều nhân vật khác nhau cùng mang tên Mác-cô, vì thời ấy tên gọi Mác-cô khá phổ biến trong đế quốc Rô Ma.

Theo truyền thống, Mác-cô, môn đệ và thông ngôn của Phê-rô, thường được đồng hoá với Gio-an Mác-cô trong sách Công vụ Tông Đồ. Pa-pi-át (năm 100–150), giám mục Hierapolis, cho biết tác giả sách Tin Mừng thứ hai là Mác-cô. Những gì Pa-pi-át viết được sử gia Eusèbe de Césarée kể lại như sau:

“Đây là những gì Kỳ mục đã nói: ‘Mác-cô, người phiên dịch cho Phê-rô, đã ghi chép một cách chính xác [trạng từ: akrisbôs], cho dù không có thứ tự, tất cả những điều ông ấy nhớ về những điều Chúa đã nói hoặc đã làm. Bởi vì ông ấy đã không nghe Chúa nói, cũng chẳng đi theo Người, nhưng sau này, như tôi đã nói, ông ấy đi theo Phê-rô. Ông này giảng dạy theo nhu cầu, chứ không tổng hợp toàn bộ những lời của Chúa. Như thế, Mác-cô đã không sai lầm khi ghi lại vài điều ông ấy đã nhớ. Quả thế, ông ấy chỉ có một ý định duy nhất là không bỏ qua những gì đã nghe và không lừa dối ai qua những gì ông ấy thuật lại” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, livre III, 39,15, [Sources Chrétiennes 31], [Texte grec, traduction et annotation par G. Bardy], Paris, Le Cerf, 1952, p. 157).

Đọc kỹ trích dẫn trên đây sẽ thấy có những chi tiết không ăn khớp với nhau. Một đàng khẳng định sự chính xác những gì được ghi chép lại: “Ghi chép một cách chính xác”, “không bỏ qua những gì đã nghe”. Một đàng cho thấy tính tương đối: ghi chép “không có thứ tự”, “ghi lại vài điều ông ấy đã nhớ”. Dù vậy, trích dẫn trên đã nói lên được điều cốt lõi của sách Tin Mừng: “Không lừa dối ai qua những gì ông ấy thuật lại”.

Đây là kiểu hành văn vào thế kỷ III-IV, độc giả ngày nay không thể đòi hỏi sự chính xác theo khoa học của thế kỷ XXI. Vì thế, không thể chỉ dựa vào trích dẫn trên đây để khẳng định cách khoa học: Mác-cô là tác giả sách Tin Mừng thứ hai. Những giả thuyết dưới đây cho thấy sự phức tạp của vấn đề tác giả sách Tin Mừng này. Xem C. FOCANT, L’évangile selon Marc, (CB.NT 2), Paris, Le Cerf, 2004, p. 30-33; R. E. BROWN, Que sait-on du Nouveau Testament?, Paris, Bayard, 2000, [dịch từ: An Introduction to the New Testament, 1997], p. 200-202.

     2. Mác-cô (không phải là Gio-an Mác-cô)

Ngày nay, một số tác giả phủ nhận việc đồng hoá các nhân vật: “Mác-cô tác giả Tin Mừng thứ hai” với các nhân vật “Mác-cô” hay “Gio-an Mác-cô”, được nhắc đến trong các sách Tân Ước. Lập trường này cho rằng tác giả Tin Mừng thứ hai là một Ki-tô hữu tên là Mác-cô, không được sách Tân Ước nói tới. Bởi vì tên gọi Mác-cô khá phổ biến trong đế quốc Rô-ma thời đó và không có bằng chứng thuyết phục trong các sách Tân Ước để khẳng định “Mác-cô, thông ngôn của Phê-rô” hay “Gio-an Mác-cô” đã biên soạn sách Tin Mừng thứ hai.

     3. Tác giả dựa vào sách Tin Mừng

Nội dung sách Tin Mừng thứ hai không cho biết tên tác giả. Tuy vậy, dựa vào bản văn Tin Mừng thứ hai, có thể nói rằng tác giả là một người có văn hoá Hy Lạp. Tác giả đã dùng những truyền thống có trước (truyền thống truyền khẩu và dựa bản văn đã có) để viết sách Tin Mừng. Theo nội dung Tin Mừng, tác giả là người sống trong môi trường văn hoá La Tinh. Bằng chứng là Tin Mừng thứ hai viết bằng tiếng Hy Lạp nhưng lại sử dụng nhiều từ gốc La Tinh. Nhiều từ La Tinh được chuyển tự sang tiếng Hy Lạp, hay từ gốc Hy Lạp được giải thích bằng tiếng La Tinh. 

Theo tình trạng văn chương Tin Mừng thứ hai hiện nay, không có lý do để nghĩ là có nhiều tác giả biên soạn Tin Mừng này. Một số tác giả cho rằng có thể Tin Mừng thứ hai đã trải qua nhiều lần soạn thảo khác nhau. Điều này giải thích sự khác nhau trong Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca, khi cả hai Tin Mừng này dùng Tin Mừng Mác-cô làm tài liệu biên soạn. Tuy nhiên, quá trình biên soạn và sự ảnh hưởng giữa các sách Tin Mừng là một đề tài rất phức tạp. Vấn đề này sẽ được trình bày trong mục: Nguồn tài liệu biên soạn các sách Tin Mừng.

II. Nơi biên soạn Tin Mừng thứ hai

Có nhiều giả thuyết về nơi biên soạn Tin Mừng thứ hai. Các tài liệu những thế kỷ đầu Công Nguyên cũng không thống nhất. Có thể nêu lên bốn giả thuyết về nơi biên soạn sách Tin Mừng thứ hai như sau:

1. Rô Ma. Theo Clément d’Alexandrie và Origène (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, VI, 14,6; VI, 25,5), Tin Mừng thứ hai được biên soạn ở Rô Ma, nơi các Ki-tô hữu bị bách hại dưới thời hoàng đế Nê-rô.

2. Ai Cập. Theo Jean Chrysostome, Tin Mừng Mác-cô biên soạn ở Ai Cập (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, II, 16,1).

3. Theo nội dung sách Tin Mừng thứ hai, Đức Giê-su tập trung hoạt động rao giảng của Người ở Ga-li-lê và vùng phụ cận, vì thế có tác giả cho rằng Tin Mừng Mác-cô được viết ở phía nam Sy-ri.

4. Hay ở phía Bắc cao nguyên Ga-li-lê.

Giả thuyết được nhiều người chấp nhận là ở Rô Ma, vì trong Tin Mừng thứ hai có nhiều từ La Tinh được Hy Lạp hoá (5,9.15; 6,27; 6,37; 12,15; 14,5; 12,42.14; 15,16.39.44.45). Đây là dấu hiệu văn chương cho thấy Tin Mừng được biên soạn trong môi trường văn hoá La Tinh và Hy Lạp.

III. Độc giả sách Tin Mừng thứ hai

Vấn đề độc giả sách Tin Mừng Mác-cô tuỳ thuộc vào giả thuyết về các nơi biên soạn nêu trên. Bản văn Tin Mừng cho thấy, sách Tin Mừng Mác-cô ít trích dẫn Cựu Ước và không hàm ẩn nhiều đến tư tưởng Cựu Ước. Tin Mừng Mác-cô chú ý cắt nghĩa tập quán Do Thái (7,3-4; 14,12; 15,42), phiên dịch từ A-ram (3,17; 5,41; 7,11; 10,46; 14,36; 15,22.34) và nhấn mạnh việc loan báo Tin Mừng cho dân ngoại (7,27-29; 10,12; 11,17; 13,10).

Những dấu hiệu trên cho phép đưa ra giả thuyết: Tin Mừng Mác-cô viết cho độc giả không phải gốc Do Thái, sống ngoài Pa-lét-tin. Có thể cộng đoàn Mác-cô là dân ngoại, nhưng không loại trừ khả năng Tin Mừng cũng dành cho các độc giả Do Thái kiều. Theo dữ liệu trong Tin Mừng, cũng có thể phỏng đoán Tin Mừng thứ hai được viết cho các Ki-tô hữu nói chung chứ không hẳn dành cho một cộng đoàn nào cụ thể. Có thể cộng đoàn Mác-cô đang chịu bách hại và đã có những người chối bỏ niềm tin (xem C. FOCANT, L’évangile selon Marc, (CB.NT 2), Paris, Le Cerf, 2004, p. 37-38).

IV. Niên biểu sách Tin Mừng Mác-cô

Tin Mừng thứ hai có những ám chỉ cuộc bách hại thời Nê-rô (54-68) và Đền Thờ bị phá huỷ (Mc 13,2) nhưng không rõ nét như trong Mt 22,7 và Lc 21,20. Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca nói đến biến cố Đền Thờ và thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy bằng lửa năm 70. Một số tác giả dựa vào lời Đức Giê-su nói với môn đệ ở Mc 13,2: “Anh nhìn ngắm công trình vĩ đại đó ư? Tại đây, sẽ không còn tảng đá nào trên tảng đá nào mà không bị phá đổ” để cho rằng Tin Mừng Mác-cô biên soạn sau năm 70.

Hiện nay, các đề nghị về năm biên soạn Tin Mừng Mác-cô như sau: (1) Trước 50, (2) 64–69, (3) 67–69, (4) Sau 70. Các dữ liệu trong Tin Mừng Mác-cô không cho phép xác định chắc chắn, có thể chọn niên biểu được nhiều người chấp nhận: Tin Mừng Mác-cô được biên soạn trong khoảng năm 68–73 (xem R. E. Brown, Que sait-on du Nouveau Testament?, Paris, Bayard, 2000, p.  169).

V. Nguồn tài liệu để biên soạn các sách Tin Mừng

Có nhiều giả thuyết về tài liệu nguồn để biên soạn Tin Mừng Mác-cô cũng như các sách Tin Mừng khác. Các giả thuyết này hình thành theo thời gian và ngày càng phức tạp. Đơn giản nhất là giả thuyết “hai nguồn văn”, nhưng mô hình này quá sơ lược không thể giải thích hết những vấn đề các sách Tin Mừng đặt ra. Với thời gian, những giả thuyết phức tạp hơn dần dần xuất hiện.

     1. Giả thuyết “hai nguồn văn”


Giả thuyết “hai nguồn văn” (xem W. HARRINGTON, Nouvelle Introduction à la Bible, (Traduit de l’Anglais [1965] par Jacques Winandy), Paris, Le Seuil, 1971, p. 676) cho rằng: Khởi đầu có “Tin Mừng Mác-cô” và “tài liệu nguồn”, ký hiệu Q (viết tắt từ “Quelle”, tiếng Đức, có nghĩa là “nguồn”). Giả thuyết này giải thích rằng: Tin Mừng Mt và Lc dựa vào Tin Mừng Mác-cô và tài liệu Q để biên soạn. Những đoạn văn Mt và Lc giống nhau mà không có trong Mc thì được lấy trong tài liệu Q.

Tuy vậy, mô hình này không giải thích được những đoạn văn chỉ có trong Tin Mừng Mt hay chỉ có trong Lc mà thôi. Để lý giải điều này một giả thuyết phức tạp hơn xuất hiện:

     2. Giả thuyết Mt và Lc có các nguồn riêng


Từ giả thuyết “hai nguồn văn” là Mc và Q, mô hình này thêm vào “tài liệu riêng của Mt” và “tài liệu riêng của Lc”. Ngoài việc Mt và Lc dựa vào tài liệu chung (Mc và Q) để biên soạn, Mt và Lc còn có những tài liệu riêng. Lý thuyết này giải thích hiện tượng: có những chi tiết riêng của Mt và của Lc mà không có trong Tin Mừng Mc và tài liệu Q. 

     3. Giả thuyết “ba nguồn văn”


Giả thuyết “ba nguồn văn” (xem W. HARRINGTON, Nouvelle Introduction à la Bible, (Traduit de l’Anglais [1965] par Jacques Winandy), Paris, Le Seuil, 1971, p. 677) phức tạp hơn và chú trọng đến quá trình hình thành các bản văn A-ram và bản dịch Hy Lạp được dùng để biên soạn các sách Tin Mừng Mt và Lc. Lý thuyết “ba nguồn văn” không dùng “tài liệu Q” mà chia thành ba nhóm tài liệu: “Các bản dịch Hy Lạp”, “Tin Mừng Mác-cô” và “các nguồn văn khác”. Tài liệu thứ ba này (các nguồn văn khác) chỉ được Lu-ca sử dụng.

Giả thuyết “ba nguồn văn” chưa tính đến truyền thống truyền khẩu và chưa trả lời được câu hỏi: Tin Mừng Mác-cô dựa vào tài liệu nào để biên soạn? Giả thuyết “nhiều nguồn văn” sẽ trả lời phần nào câu hỏi này. 

     4. Giả thuyết “nhiều nguồn văn”


Giả thuyết “nhiều nguồn văn” (xem W. HARRINGTON, Nouvelle Introduction à la Bible, (Traduit de l’Anglais [1965] par Jacques Winandy), Paris, Le Seuil, 1971, p. 680) cho thấy sự phức tạp của việc hình thành các sách Tin Mừng Nhất Lãm (Mc – Mt – Lc). Theo giả thuyết này, Tin Mừng Mác-cô được biên soạn dựa trên “truyền thống truyền khẩu (A-ram, Hy Lạp), giáo huấn của Phê-rô” và “các bản dịch Mt A-ram sang tiếng Hy Lạp”.

Những giả thuyết trên phác hoạ khái quát tài liệu nguồn của Tin Mừng Nhất Lãm (Mc – Mt – Lc). Tuy nhiên, càng đi vào chi tiết càng có nhiều điểm tranh luận. Chẳng hạn, tranh luận về sự hiện hữu và nội dung của “tài liệu Q”, “các nguồn văn khác”, “nguồn chung” và “Mt A-ram” v.v... 

Nói chung, giả thuyết “nhiều nguồn văn” khá thuyết phục, nhưng chưa nói đến quá trình hình thành sách Tin Mừng Gio-an. Các tác giả P. Benoît và M.-É. Boismard đề nghị giả thuyết về các giai đoạn hình thành cả bốn sách Tin Mừng sau đây (xem phân tích chi tiết về vấn đề tác giả và quá trình hình thành Tin Mừng Gio-an trong tập sách: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?).

     5. Giả thuyết của P. BENOIT và M.-É. BOISMARD


Hai tác giả P. Benoît và M.-É. Boismard (P. BENOIT; M.-É. BOISMARD, Synopse des Quatre Évangiles, t. II, Paris, Le Cerf, 1972) đưa ra giả thuyết về bốn tài liệu nguồn được dùng để biên soạn các sách Tin Mừng: Q, A, B, C. Theo hai tác giả này, trước khi hình thành các sách Tin Mừng như hiện nay, đã có những tài liệu trung gian:

Mt – inter (bản văn Mt trung gian)
Mc – inter (bản văn Mc trung gian)
Proto-Lc inter (bản văn Lc trung gian)
Ga 1–20 (Tin Mừng nguyên thuỷ với kết luận thứ nhất ở Ga 20,30-31).

Các “tài liệu nguồn”, những “bản văn trung gian” và “bốn sách Tin Mừng hiện nay”, tương tác với nhau theo sơ đồ trên. Việc giả thuyết này xếp Tin Mừng Mác-cô ngang hàng với Tin Mừng Mt và Lc, nghĩa là xuất hiện cùng giai đoạn với hai Tin Mừng này, đã gây nhiều tranh cãi. Bởi vì có những dấu hiệu văn chương cho thấy Tin Mừng Mác-cô xuất hiện trước Tin Mừng Mt và Lc. Niên biểu các sách Tin Mừng xuất hiện theo thời gian được đa số tác giả chấp nhận hiện nay: 
    - Tin Mừng Mác-cô:         khoảng năm 68 – 73.
    - Tin Mừng Mát-thêu:       khoảng năm 80 – 90.
    - Tin Mừng Lu-ca:            khoảng năm 85 – 90.
    - Tin Mừng Gio-an:          khoảng năm 90 – 95.  

Kết luận

Có thể tóm kết vấn đề tác giả, nơi biên soạn, độc giả, niên biểu và tài liệu nguồn biên soạn Tin Mừng thứ hai (Tin Mừng Mác-cô) như sau:

1. Tác giả:
Theo truyền thống, tác giả là Mác-cô, thông ngôn của Phê-rô.
Theo nội dung sách Tin Mừng thứ hai, tác giả không được nêu tên, đó là người sử dụng tiếng Hy Lạp sống trong môi trường văn hoá La Tinh.

2. Nơi biên soạn:
Bản văn không cho biết rõ nơi biên soạn, nhưng đa số tác giả cho rằng Rô Ma là nơi phù hợp hơn cả.

3. Độc giả:
Theo nội dung sách Tin Mừng độc giả là các Ki-tô hữu dân ngoại, nhưng không loại trừ các Ki-tô hữu gốc Do Thái.

4. Niên biểu:
Tin Mừng Mác-cô biên soạn trong khoảng năm 68–73.

5. Tài liệu nguồn:
Có thể dựa vào giả thuyết “nhiều nguồn văn” để thấy sự phức tạp trong việc hình thành các sách Tin Mừng.

Những nét khái quát về tác giả, nơi biên soạn, độc giả, niên biểu và quá trình hình thành Tin Mừng Mác-cô trên đây giúp độc giả đặt Tin Mừng Mác-cô trong bối cảnh lịch sử, đồng thời nhận ra phần nào sự phức tạp của vấn đề. Thiết nghĩ, không nên đi vào những tranh luận chi tiết, điều trong tầm tay có thể làm là đọc và phân tích chính bản văn để tìm hiểu thông điệp sách Tin Mừng dành cho độc giả. Trong hành trình đi tìm ý nghĩa của bản văn, độc giả sẽ thưởng thức được những nét hay, nét đẹp, nét độc đáo của văn chương và thần học sách Tin Mừng Mác-cô./.


Ngày 19 tháng 02 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com

12 février 2012

Mc 8,14-21: “Một cái bánh”, “nhiều bánh” và “phép lạ bánh hoá nhiều”


Bản văn Mc 8,14-21
Bản dịch lấy trong: Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt.

14Và các ông (các môn đệ) quên đem bánh theo; chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền.
15Người (Đức Giê-su) căn dặn các ông rằng: “Anh em hãy chú ý, hãy coi chừng men của những người Pha-ri-sêu và men của Hê-rô-đê.”
16Các ông bàn tán với nhau là các ông không có nhiều bánh.
17Biết thế, Người nói với họ: “Sao anh em lại bàn tán là anh em không có nhiều bánh? Anh em chưa nhận biết cũng chẳng hiểu ư? Sao lòng anh em vẫn còn chai đá thế? 18Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư? Anh em không nhớ sao, 19khi Thầy bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu giỏ đầy mảnh vụn?” Các ông nói với Người: “Mười hai.” “20Và với bảy cái bánh cho bốn ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu thúng đầy mảnh vụn?” Các ông nói [với Người]: “Bảy.” 21Người nói với các ông: “Anh em chưa hiểu ư?”


Dẫn nhập

Đoạn Tin Mừng Mc 8,14-21 thuật lại câu chuyện xảy ra trên biển hồ Ga-li-lê sau khi Đức Giê-su và các môn đệ lên thuyền ở vùng Đan-ma-nu-tha (8,10), một nơi ở bờ phía tây biển hồ Ga-li-lê, và họ “đi qua bờ bên kia” (8,13). Nơi đến của chuyến đi là Bết-xai-đa, địa danh này được nói đến ở đầu trình thuật tiếp theo: “Họ đến Bết-xai-đa, người ta mang đến cho Người (Đức Giê-su) một người mù và nài xin Người để Người chạm vào anh ta…” (8,22).

Đoạn văn Mc 8,14-21 có nhiều chi tiết khá khó hiểu và lạ thường. Chẳng hạn, kiểu nói “chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14) muốn nói điều gì? Tại sao đang nói về “bánh” (artos), Đức Giê-su lại căn dặn các môn đệ: “Hãy coi chừng men của những người Pha-ri-sêu và men của Hê-rô-đê”? Danh từ “men” (zumê) ám chỉ điều gì nơi Hê-rô-đê và nơi những người Pha-ri-sêu? Tại sao các môn đệ lại bàn tán về việc “không có nhiều bánh”?

Trên bề mặt, xem ra câu chuyện chẳng có gì trầm trọng, tại sao Đức Giê-su lại quở trách các môn đệ nặng lời như thế? Trong Tin Mừng Mác-cô, đây là đoạn văn Đức Giê-su khiển trách dồn dập với một loạt từ ngữ được ghép với phủ định từ: “Không”. Độc giả ngạc nhiên khi ở giữa sách Tin Mừng Mác-cô (chương thứ 8, trên toàn bộ 16 chương của sách Tin Mừng) mà kết quả huấn luyện của Đức Giê-su, cũng như sự tiếp thu của các môn đệ chưa có gì khả quan. Theo nhận định của Đức Giê-su, các môn đệ là những người “chưa nhận biết”, “không hiểu” (8,17a), “chưa hiểu” (8,21). Lòng các ông vẫn còn “chai đá” (8,17b). Các ông “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (8,18). Những lời quở trách được nhấn mạnh thêm khi Đức Giê-su nói dưới hình thức câu hỏi, và trong đoạn văn, không có một lời giải thích nào từ phía các môn đệ.

Những lời quở trách nặng nề dành cho các môn đệ là điểm đặc thù trong Tin Mừng Mác-cô. Đối với độc giả, hành trình nhóm nhân vật “các môn đệ của Đức Giê-su” trong Tin Mừng này mang nhiều ý nghĩa. Đề tài này đã được phân tích trong bài viết: “Anh em ngu muội như thế sao?” (Mc 7,18) “Hành trình của các môn đệ” nói gì với độc giả? (http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/05/tim-hieu-tm-mc-anh-em-ngu-muoi-nhu-sao.html). Bài viết này đã đề cập đến đề tài “không hiểu”, “không biết” của các môn đệ trong đoạn văn Mc 8,14-21.

Bài chia sẻ sau đây chỉ bàn đến đề tài “bánh” (artos) trong đoạn văn Mc 8,14-21 bằng cách nối kết các ý tưởng: “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14), lời bàn tán của các môn đệ về “không có nhiều bánh” (8,16.17) và hai phép lạ bánh hoá nhiều (Mc 6,42-44; 8,1-9) được Đức Giê-su nhắc lại trong lời chất vấn các môn đệ (Mc 8,19.20).

1. “Không có nhiều bánh” và “phép lạ bánh”   
   
Đề tài “bánh” xuyên suốt đoạn văn Mc 8,14-21. Thật vậy, trình thuật mở đầu bằng việc các môn đệ “quên đem bánh theo” và “chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14). Tiếp đến là lời bàn tán: “không có nhiều bánh” (8,16). Đức Giê-su nhắc lại tranh luận này trong câu tiếp theo (8,17) và quở trách các môn đệ nặng lời. Để minh họa lòng chai dạ đá của các môn đệ, Đức Giê-su đã nhắc lại hai phép lạ bánh hoá nhiều mà Người đã thực hiện trước đó (Mc 6,30-44; 8,1-9).

Đức Giê-su thực hiện phép lạ bánh hoá nhiều lần thứ nhất cho năm ngàn người ăn (Mc 6,30-44). Phép lạ thứ nhất này kết thúc như sau: “42Tất cả đã ăn và đã được no nê. 43Họ thu lại những mảnh vụn được mười hai giỏ đầy cùng với cá còn dư. 44Những kẻ ăn [bánh] là năm ngàn người đàn ông” (6,42-44). Ở Mc 8,18-19, Đức Giê-su nhắc lại phép lạ này với các môn đệ bằng một câu hỏi. Người chất vấn các môn đệ: “18bAnh em không nhớ sao, 19akhi Thầy bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu giỏ đầy mảnh vụn?” (8,18b-19a) Các môn đệ đã trả lời đúng câu hỏi này: “Mười hai” (8,19b).

Với kiểu hành văn tương tự, Đức Giê-su nhắc lại phép lạ bánh hoá nhiều lần thứ hai ở đầu chương 8 (Mc 8,1-9). Đức Giê-su hỏi các môn đệ ở 8,20: “Với bảy cái bánh cho bốn ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu thúng đầy mảnh vụn?” Lần này các môn đệ cũng trả lời chính xác: “Bảy”. Con số này được nói đến trong phép lạ bánh hoá nhiều lần thứ hai (8,1-9). Người thuật chuyện cho biết ở 8,8-9: “8Họ đã ăn và đã được no nê, và họ thu lại những mảnh vụn còn thừa được bảy thúng. 9Có khoảng bốn ngàn người. Rồi Người (Đức Giê-su) giải tán họ.”

Như thế, có mối liên hệ giữa “một cái bánh trong thuyền” (8,14) với lời bàn tán “không có nhiều bánh”, cùng với “vô số bánh” trong hai phép lạ bánh hoá nhiều. Đức Giê-su đã nhắc lại hai phép lạ bánh hoá nhiều để soi sáng cho lời bàn tán “không có nhiều bánh”. Mạch văn cho phép hiểu: các môn đệ đã không nhớ hai phép lạ bánh hoá nhiều đã xảy ra trước đó, nên họ mới bàn tán về việc “không có nhiều bánh” trên thuyền. Hay nói chính xác hơn, các môn đệ nhớ rõ chi tiết hai phép lạ ấy (vì các ông trả lời đúng hai câu hỏi của Đức Giê-su ở 8,19-20), nhưng các ông chưa hiểu ý nghĩa của hai phép lạ bánh hoá nhiều. Các ông chưa nhận ra quyền năng của Đức Giê-su. Thật vậy, nếu như chỉ với “năm cái bánh và hai con cá” (6,38), Đức Giê-su có thể nuôi 5000 người ăn no nê, thì việc các môn đệ tranh luận “không có nhiều bánh” đang khi Đức Giê-su hiện diện với họ trên thuyền là bằng chứng hiển nhiên cho thấy rằng các môn đệ “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (8,18).

2. “Chỉ có một cái bánh” và “không có nhiều bánh”

Như đã phân tích, mạch văn cho phép hiểu các môn đệ thực sự chưa nhận biết và chưa hiểu Đức Giê-su là ai. Đây cũng là tình trạng của cộng đoàn đón nhận Tin Mừng Mác-cô vào cuối thế kỷ I và tình trạng của độc giả qua mọi thời đại. Trình thuật Mc 8,14-21 nhằm soi sáng và mời gọi độc giả nhận ra quyền năng của Đức Giê-su và tín thác vào Người. Các môn đệ trong đoạn văn 8,14-21 bị quở trách nặng nề là những chi tiết quý giá cho độc giả. Bởi vì những lời quở trách trong bản văn giúp độc giả có cơ may hiểu đúng về Đức Giê-su, nhờ đó độc giả biết cách “thấy” và “nghe” Người, nghĩa là nhận ra ý nghĩa lời nói và việc làm của Đức Giê-su.

Đề tài “chưa biết”, “chưa hiểu”, “chưa tin” của các môn đệ trong đoạn văn Mc 8,14-21 còn thể hiện qua chi tiết tương phản: “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14) và lời bàn tán về “không có nhiều bánh” (8,16). Đối với các môn đệ “một cái bánh” là không đủ, nên các ông lo lắng, bàn tán vì “không có nhiều bánh”, như thể sự hiện diện của Đức Giê-su trên thuyền chẳng giúp được gì cho họ.

Đối với các môn đệ “một cái bánh” là chưa đủ, cần có “nhiều bánh”. Ý tưởng này đã bị Đức Giê-su quở trách. Nghĩa là đối với Đức Giê-su, “một cái bánh” là đủ. Độc giả nhận ra rằng, nếu tin vào quyền năng của Đức Giê-su thì “một cái bánh” là đủ, vì hai phép lạ bánh hoá nhiều đã bày tỏ cách hiển nhiên quyền năng của Người. Vì vậy, nếu như các môn đệ tin vào Đức Giê-su và nhận ra Người là ai thì các ông sẽ không bàn tán về việc “không có nhiều bánh”. Ý tưởng chính của đoạn văn là mời gọi độc giả nhận biết về Đức Giê-su. Tin Mừng Mác-cô đã trình bày cách độc đáo đề tài này qua hai ý: (1) Đối lập giữa “một bánh” và “nhiều bánh” (8,14.15.16). (2) Kiểu nói lạ lùng: “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14). 

    a) “Một cái bánh” và “nhiều bánh”

Qua lời quở trách các môn đệ, Đức Giê-su muốn nói rằng “một cái bánh là đủ”, không phải lo lắng về chuyện “không có nhiều bánh” (8,16-17). Từ “nhiều” in nghiêng vì trong bản văn Hy Lạp không có từ “polus” (nhiều). Từ này được thêm vào vì danh từ “bánh” (artos) trong bản văn Hy Lạp dùng ở đối cách, số nhiều (artous). Dịch sát câu 8,16b: Các môn đệ bàn tán với nhau là “Các ông không có những chiếc bánh (artous ouk ekhousin)”. Để xuôi tiếng Việt, có thể dịch 8,16b: “Các ông không có nhiều bánh”. Từ “nhiều” không có trong tiếng Hy Lạp, nhưng cần thêm vào để diễn tả danh từ “bánh” ở số nhiều.

Chi tiết này quan trọng trong bản văn, bởi vì nếu dịch từ “bánh” ở số ít: “Các ông không có bánh” sẽ làm mất tương phản quan trọng “một bánh – nhiều bánh”, đồng thời làm cho bản văn trở nên khó hiểu. Tại sao lại bàn tán là “không có bánh” trong khi đã có một chiếc bánh trên thuyền với họ. Vấn đề các môn đệ bàn tán không phải là “không có bánh”, nhưng là “không có nhiều bánh” vì đối với các ông, chỉ có một chiếc bánh trên thuyền là không đủ. Để hiểu đối lập giữa “một bánh” và “nhiều bánh”, cần tìm hiểu ý nghĩa kiểu nói lạ lùng: “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền”.

    b) “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền”

Kiểu nói nhấn mạnh và lạ lùng: “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” (8,14) cho phép hiểu “bánh” theo nghĩa biểu tượng. Mạch văn cho phép đồng hoá “bánh” với “Đức Giê-su”. Nếu thay từ “bánh” bằng danh xưng “Đức Giê-su” thì câu văn vẫn có nghĩa: “Chỉ có một mình Đức Giê-su với các ông trên thuyền”. Ý tưởng này sẽ xuất hiện trong trình thuật Đức Giê-su biến hình trên núi (Mc 9,2-8). Sau trình thuật biến hình, người thuật chuyện kể: “Chợt nhìn quanh, các ông (Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an) không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su với họ” (9,8). Như thế “Chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” cho phép liên tưởng tới sự hiện diện của Đức Giê-su với các môn đệ trên thuyền. Nhưng đối với các môn đệ, xem ra sự hiện diện của Đức Giê-su là không đủ, nên mới có lời bàn tán. Họ lo lắng “không có nhiều bánh”, như thể Đức Giê-su không hiện diện với họ.

Sự đồng hoá giữa “bánh” và “Đức Giê-su” sẽ được thực hiện cách minh nhiên trong bữa tiệc ly. Chính Đức Giê-su là tấm bánh bẻ ra cho các môn đệ. Người thuật chuyện kể về bữa tiệc ly như sau: “Đang khi họ ăn, Người (Đức Giê-su) cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy’” (Mc 14,22). Đối với độc giả, hình ảnh “bánh ở với các môn đệ...” (8,14) gợi đến Bánh Thánh Thể. Như thế, kiểu nói “chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền” gợi đến chính sự hiện diện của Đức Giê-su. Người là tấm bánh duy nhất có khả năng nuôi dưỡng Hội Thánh qua mọi thời đại. Theo nghĩa này, chỉ cần duy nhất “một chiếc bánh” trên thuyền (hình ảnh tượng trưng Hội Thánh) là đủ.    

Một khi đã có Đức Giê-su hiện diện với các môn đệ thì không có gì phải lo lắng về của ăn. Từ ý nghĩa trên, trình thuật Mc 8,14-21 cho thấy các môn đệ chưa tin vào Đức Giê-su và chưa nhận ra quyền năng của Người. Đề tài “bánh” trong đoạn văn 8,14-21 mời gọi độc giả nhận biết Đức Giê-su là ai. Từ đó mở lòng ra lắng nghe giáo huấn của Người để được nuôi dưỡng và được sống.

Kết luận

Đề tài “bánh” (artos) trong đoạn văn Mc 8,14-21 được xây dựng qua cách dùng từ “bánh” (artos) ở số ít (một cái bánh) và số nhiều (nhiều bánh). Sau đó, Đức Giê-su soi sáng lời bàn tán về bánh bằng cách nhắc lại hai phép lạ bánh hoá nhiều (Mc 6,30-44; 8,1-9), nghĩa là “không có nhiều bánh” được đặt song song với “đã có vô số bánh”.

Khi các môn đệ bàn tán với nhau về chuyện: “không có nhiều bánh” là các ông đã chưa nhận ra quyền năng của Đức Giê-su, được bày tỏ qua hai phép lạ bánh hoá nhiều. Liệu độc giả có tránh khỏi những lời quở trách Đức Giê-su dành cho các môn đệ hay không? Nghĩa là phải chăng độc giả là người thực sự đã nhận biết Đức Giê-su là ai, đã thấy, đã nghe, đã hiểu và đã đón nhận quyền năng của Người? Những lời Đức Giê-su quở trách các môn đệ trong bản văn cũng là những lời dành cho độc giả. Đó là những lời cảnh báo nhằm giúp độc giả hiểu được ý nghĩa của bản văn và ý nghĩa của hai phép lạ bánh hoá nhiều.

Nếu đặt những lời Đức Giê-su quở trách các môn đệ ở Mc 8,14-21 với những lời quở trách khác trong Tin Mừng Mác-cô thì tình trạng các môn đệ là “những người ở trong” (insider) vì các ông được làm môn đệ Đức Giê-su, nhưng các môn đệ đã trở thành “những kẻ ở ngoài” (outsider), vì các ông đã không thấy, không nghe, không biết, không tin. Nhóm nhân vật “các môn đệ” được trình bày như thế trong Tin Mừng Mác-cô là để độc giả có cơ may “bước vào bên trong” và trở thành “người ở trong” (insider), nghĩa là nhận biết Đức Giê-su là ai và tin vào quyền năng của Người, đặc biệt trong những hoàn cảnh éo le của cuộc sống (xem bài viết: “Anh em ngu muội như thế sao?” (Mc 7,18) “Hành trình của các môn đệ” nói gì với độc giả?).

Bài viết này chưa phân tích đề tài “men của những người Pha-ri-sêu và men của Hê-rô-đê” (8,15). Trong mạch văn, dường như đề tài “men” (zumê) cắt ngang và chèn vào đề tài “bánh” (artos). Tuy nhiên, trong bối cảnh văn chương rộng lớn hơn của Tin Mừng Mác-cô, có thể hiểu “men Pha-ri-sêu” và “men Hê-rô-đê” theo nghĩa nào? Đề tài “bánh” và “men” liên hệ hay độc lập với nhau? Phải chăng cách suy nghĩ của các môn đệ trong đoạn văn Mc 8,14-21 cũng là cách suy nghĩ của những người Pha-ri-sêu và của Hê-rô-đê về Đức Giê-su? Hy vọng sẽ có dịp chia sẻ với quý độc giả về đề tài này trong một bài viết khác./.
   

Ngày 12 tháng 02 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com