19 mai 2012

Ga 16,4b-11: Đấng Pa-rác-lê và thế gian


















Đoạn văn Ga 16,4b-11 nói về sự ra đi của Đức Giê-su và việc Đấng Pa-rác-lê sẽ đến. Khi đến, Đấng Pa-rác-lê sẽ chứng minh thế gian sai lầm về tội, về sự công chính và về sự xét xử. Như đã trình bày trong bài viết “Đấng Pa-rác-lê là ai?”, “Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật” là đề tài độc đáo riêng của Tin Mừng Gio-an và được trình bày qua năm đoạn văn: (1) 14,15-17; (2) 14,25-26; (3) 15,26-27; (4) 16,7-11; (5) 16,12-15. Cả năm đoạn văn này thuộc về 3 chương (Ga 14–16). Đoạn văn Ga 16,4b-11 là mặc khải của Đức Giê-su về sự cần thiết Người phải ra đi và về vai trò của Đấng Pa-rác-lê trong tương quan với thế gian. Đấng Pa-rác-lê chứng minh thế gian sai lầm như thế nào, cho ai và để làm gì?

Các mục: (1) Bản văn Ga 16,4b-11, (2) Phân đoạn và bối cảnh Ga 16,4b-11, (3) Cấu trúc 16,4b-11, (4) Chứng minh thế gian sai lầm về tội, về sự công chính và về sự xét xử, trình bày sau đây sẽ giúp trả lời phần nào câu hỏi trên.

1. Bản văn Ga 16,4b-11:

Đức Giê-su nói với các môn đệ:
16,4bNhững điều này, Thầy đã không nói với anh em từ đầu, vì Thầy còn ở lại với anh em. 5Nhưng bây giờ Thầy đi về với Đấng đã sai Thầy, mà không ai trong anh em hỏi Thầy: ‘Thầy đi đâu?’ 6Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nỗi ưu phiền tràn ngập lòng anh em. 7Chính Thầy nói sự thật với anh em: Sẽ có lợi cho anh em nếu Thầy ra đi. Nếu Thầy không ra đi, Đấng Pa-rác-lê sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.

16,8Khi Đấng ấy đến, Người sẽ chứng minh thế gian sai lầm về tội, về sự công chính và về sự xét xử. 9Về tội: Họ không tin vào Thầy. 10Về sự công chính: Thầy đi về với Cha, và anh em không còn thấy Thầy. 11Về sự xét xử: Thủ lãnh của thế gian này đã bị xét xử.

2. Phân đoạn và bối cảnh Ga 16,4b-11

Đoạn văn 16,4b-11 thuộc về đoạn văn lớn hơn: 16,4b-15. Ở 16,4, có sự phân cách giữa 16,4a và 16,4b qua từ “những điều này” (tauta). Đức Giê-su nói ở 16,4a: “Những điều này, Thầy nói với anh em”, lời này ám chỉ những gì Đức Giê-su đã nói trước đó (15,18–16,3). Trong khi từ “những điều này” (tauta) ở 16,4b nói về những điều Đức Giê-su chưa nói: “Những điều này (tauta), Thầy đã không nói với anh em từ đầu, vì Thầy còn ở lại với anh em” (16,4a). Bây giờ Người đi về với Cha (16,5), nên Người nói với các môn đệ.

Đoạn văn 16,12-15 vẫn nói về Đấng Pa-rác-lê, nhưng có sự thay đổi đề tài giữa 16,11 và 16,12. Đoạn văn 16,7-11 trình bày hoạt động của Đấng Pa-rác-lê trong tương quan với thế gian: “chứng minh thế gian sai lầm...” (16,8), còn 16,12-15 trình bày hoạt động của Đấng Pa-rác-lê nơi các môn đệ. Như thế, hoạt động của Đấng Pa-rác-lê liên quan đến hai đối tượng khác nhau: Đấng Pa-rác-lê và thế gian (Ga 16,7-11); Đấng Pa-rác-lê và các môn đệ (16,12-15).

Những quan sát trên cho phép tách đoạn văn 16,4b-11 làm thành một tiểu đoạn tương đối độc lập để phân tích. Đồng thời, tiểu đoạn 16,4b-11 cũng soi sáng cho đoạn văn trước nó. Thật vậy, trong đoạn văn Ga 15,18–16,4a, Đức Giê-su cho các môn đệ biết họ sẽ bị thế gian bách hại và giết chết thì trong đoạn văn tiếp theo 16,4b-11, Đấng Pa-rác-lê sẽ cho các môn đệ biết sự thật về thế gian. Đấng Pa-rác-lê sẽ chứng minh thế gian sai lầm về cả ba phương diện: Về tội, về sự công chính và về sự xét xử (16,8-11). Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê ở 16,8-11 liên hệ chặt chẽ với tương quan giữa các môn đệ và thế gian thù ghét trong đoạn văn 15,18–16,4a.

Trong tiểu đoạn 16,4b-7, sự ra đi của Đức Giê-su (16,4b-5) làm cho nỗi buồn lấp đầy lòng các môn đệ (16,6), nhưng sự ra đi này là điều kiện để Đức Giê-su sai Đấng Pa-rác-lê đến với các môn đệ. Người nói ở 16,7: “Chính Thầy nói sự thật với anh em: Sẽ có lợi cho anh em nếu Thầy ra đi. Nếu Thầy không ra đi, Đấng Pa-rác-lê sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em.”

Nỗi buồn của các môn đệ có thể hiểu theo nghĩa rộng. Các môn đệ đang buồn rầu, xao xuyến và sợ hãi vì Đức Giê-su sắp bước vào cuộc Thương Khó và vì đang bị thế gian thù ghét và bách hại. Trong hoàn cảnh này, vai trò của Đấng Pa-rác-lê mang tính quyết định cho sự tồn tại của cộng đoàn các môn đệ. Bởi vì Đấng Pa-rác-lê giúp các môn đệ hiểu ý nghĩa của biến cố Thương Khó.

3. Cấu trúc Ga 16,4b-11

Tại sao không dịch từ Hy Lạp ho paraklêtos ra tiếng Việt mà lại giữ nguyên ngữ: “Đấng Pa-rác-lê”? Xin độc giả xem bài viết Đấng Pa-rác-lê là ai?”. Trong đoạn văn 16,4b-15, tên gọi “Đấng Pa-rác-lê” (tiếng Hy Lạp: ho paraklêtos) chỉ xuất hiện 1 lần ở 16,7, sau đó mỗi khi nói đến Đấng Pa-rác-lê bản văn dùng đại từ “Đấng ấy (ekeinos)” (16,8.13.14). Đoạn văn 16,4b-11 có thể được cấu trúc thành 2 tiểu đoạn: 16,4b-7 và 16,8-11.
















Đoạn văn 16,4b-11 chia làm hai tiểu đoạn: (1) Tiểu đoạn thứ nhất (16,4b-7) nói về điều kiện để Đức Giê-su sai Đấng Pa-rác-lê đến. Biến cố Đức Giê-su ra đi, nghĩa là Người sắp bước vào cuộc Thương Khó, đã làm cho các môn đệ tràn ngập nỗi buồn (16,6). Nhưng việc Đức Giê-su ra đi là cần thiết và có lợi cho các môn đệ, bởi vì sau khi về với Cha, Đức Giê-su sẽ sai Đấng Pa-rác-lê đến với các môn đệ (16,7). (2) Tiểu đoạn thứ hai (16,8-11) nói đến vai trò của Đấng Pa-rác-lê: Chứng minh thế gian sai lầm về tội, về sự công chính và về sự xét xử.

Cần đặt công việc của Đấng Pa-rác-lê trong đoạn văn 16,8-11 vào bối cảnh vụ kiện trong Tin Mừng thứ tư. Đó là vụ kiện giữa ánh sáng và bóng tối, giữa Đức Giê-su và những kẻ chống đối Người, giữa các môn đệ và “thế gian thù ghét”. Khuôn mặt của “thế gian thù ghét” được mô tả trong Ga 14–17 với sáu đặc điểm riêng như sau: (1) Thù ghét (15,18.19.23.25), (2) Bách hại (15,20; 16,2), (3) Có tội (15,22,24; 16,9), (4) Thuộc về thủ lãnh thế gian (14,30; 16,11), (5) Không biết Đức Giê-su và Chúa Cha (15,21; 16,3), (6) Được mời gọi tin và biết Đức Giê-su (17,21.23). Xem định nghĩa “thế gian thù ghét” và các nghĩa của từ “thế gian” (kosmos) trong bài viết “Thế gian là gì? Thế gian là ai?” cũng như trong tập sách: YÊU và GHÉT trong Tin Mừng Gio-an, Phần I, tr. 124-130, tr.144-150.

4. Chứng minh thế gian sai lầm

Động từ Hy Lạp “elegkhô” tạm dịch là “chứng minh sai lầm”. Động từ này rất khó giải thích trong mạch văn. Xem sự phức tạp của bản văn và những cách hiểu khác nhau về động từ elegkhôtrong tập sách ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, tr. 216-270. Các nhà chú giải hiểu câu “chứng minh thế gian sai lầm” (elegxei ton kosmon)” (16,8a) theo hai hướng: (1) Hiểu 16,8a theo hướng Đấng Pa-rác-lê làm công việc “chứng minh sai lầm” trực tiếp với thế gian. (2) Hiểu 16,8a theo hướng: Đấng Pa-rác-lê không “chứng minh sai lầm” trực tiếp với thế gian, mà soi sáng cho các môn đệ biết sự thật về thế gian. Chúng tôi đồng thuận với ý kiến của các tác giả cho rằng: Đấng Pa-rác-lê chỉ mặc khải cho các môn đệ. Bởi vì thế gian không thấy và không biết Đấng Pa-rác-lê (14,17) nên Đấng này không nói trực tiếp với thế gian.

Tuy có một số khó khăn và bất hợp lý về văn bản, tiểu đoạn 16,8-11 được xây dựng chặt chẽ: Câu 16,8 thông báo ba lãnh vực Đấng Pa-rác-lê sẽ chứng minh thế gian sai lầm, sau đó là phần giải thích lấy lại từng điểm một (16,9-11). Ba đề tài ở 16,9-11: “tội”, “công chính” và “xét xử” có cấu trúc đồng tâm (xem bảng cấu trúc Ga 4b-11): A: “tội” (16,9), B: “sự công chính” (16,10), A’: “sự xét xử” (16,11). Hai yếu tố tiêu cực A và A’ song song với nhau. Yếu tố A (16,9) liên quan đến tội của thế gian; yếu tố A’ (16,11) nói về việc thủ lãnh thế gian đã bị xét xử. Yếu tố tích cực ở trọng tâm (B) nói về sự công chính của Đức Giê-su. Yếu tố B cho biết những kẻ chiến thắng trong vụ kiện giữa ánh sáng và bóng tối là chính Đức Giê-su và các môn đệ. Đồng thời các yếu tố A và A’ khẳng định sự thất bại của thế gian và thủ lãnh thế gian. Mạch văn 15,18–16,11 cho phép hiểu “thế gian chống đối và từ chối tin” có liên quan đến cả ba vấn đề: “Tội”, “sự công chính” và “sự xét xử”.

a) Về tội

Về tội của thế gian, Đức Giê-su cho các môn đệ biết ở Ga 15,22.24: Tội của thế gian là không thể bào chữa được, vì họ đã nghe lời Đức Giê-su, đã thấy những việc Người làm nhưng vẫn không tin vào Người. Những kẻ chống đối Đức Giê-su không chỉ là không tin mà còn tìm cách loại trừ Người. Khi tìm cách giết Đức Giê-su, những kẻ chống đối đang thuộc về quỷ và làm công việc của quỷ (Ga 8,44). Thần học Tin Mừng Gio-an nhấn mạnh đến tội không tin vào Đức Giê-su. Vì thế, biến cố Đức Giê-su chết trên thập giá làm lộ ra tội không tin của thế gian và của những kẻ chống đối Người.

b) Về sự công chính

Về sự công chính, thế gian tưởng mình công chính và phụng thờ Thiên Chúa khi tìm giết Đức Giê-su và các môn đệ của Người (16,2). Nhưng theo thần học Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su đi về với Cha trong sự chết của Người, nghĩa là chính trong biến cố Thương Khó mà thế gian áp đặt cho Đức Giê-su, Người tôn vinh Cha, và Cha tôn vinh Người. Khi bách hại và giết chết Đức Giê-su và các môn đệ, thế gian lầm tưởng là công chính thuộc về mình, nhưng thực ra, sự công chính thuộc về Đức Giê-su và các môn đệ.

        c) Về sự xét xử

Về sự xét xử, Đức Giê-su đã báo trước thế gian sẽ bị xét xử trong Giờ của Người ở Ga 12,31. Người đã tuyên bố cuối sứ vụ công khai: “Bây giờ là lúc xét xử thế gian này. Bây giờ thủ lãnh thế gian này sẽ bị tống ra ngoài” (12,31). Tuy nhiên, ở 16,11, không phải thế gian bị xét xử mà là thủ lãnh thế gian đã bị xét xử. Sự xét xử ở 16,11 đi đến tận gốc rễ của thế lực đen tối. Theo thần học Tin Mừng thứ tư, thế gian bách hại Đức Giê-su và các môn đệ, nên thế gian chịu sự chi phối của “thủ lãnh thế gian” (12,31; 14,30; 16,11). Nhân vật này được xếp ngang hàng với “quỷ” (8,44; 13,2), “Xa-tan” (13,27) và “Ác Thần” (17,15). Nếu như “thủ lãnh thế gian” đã bị xét xử thì thế gian và thủ lãnh thế gian đã hoàn toàn thất bại và Đức Giê-su đã thực sự chiến thắng thế gian (16,33).

Ba vấn đề: “Tội”, “sự công chính” và “sự xét xử” ở 16,8-11 mô tả sự thật về biến cố Giờ của Đức Giê-su trong bối cảnh một vụ kiện. Các nhân vật trong vụ kiện giữa “ánh sáng – bóng tối” đối lập nhau: Một bên là Đức Giê-su (16,10a) và các môn đệ (16,10b); một bên là “thế gian” (16,8) và “thủ lãnh thế gian” (16,11). Như thế, vai trò của Đấng Pa-rác-lê là xét lại vụ kiện Đức Giê-su và mặc khải cho các môn đệ biết sự thật về biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Đấng Pa-rác-lê làm rõ: Ai có tội, sự công chính thuộc về ai và ai đã bị xét xử.

Kết luận

Cùng với một số tác giả, chúng tôi hiểu câu: “elegxei ton kosmon” (16,8a) là “Sẽ chứng minh thế gian sai lầm.” Đấng Pa-rác-lê làm điều này trước các môn đệ, nghĩa là Người mặc khải cho các môn đệ biết sự thật về thế gian trong bối cảnh một vụ kiện. Đấng Pa-rác-lê không đối đầu trực tiếp với thế gian vì kẻ bị tố cáo là thế gian vắng mặt trong Ga 13–17.

Thế gian có tội vì không tin vào Đức Giê-su (16,9). “Sự công chính” hay “không công chính” song song với “vô tội” hay “có tội”. Sự công chính thuộc về Đức Giê-su vì Người đi về với Cha (16,10). Khi sự thật được bày tỏ: “Thế gian có tội”, “Đức Giê-su vô tội” thì lời tuyên bố án phạt được công bố. Ở đây án xử không dành cho thế gian mà dành cho thủ lãnh thế gian tức là Xa-tan.

Công việc “chứng minh thế gian sai lầm” của Đấng Pa-rác-lê vừa ở bên ngoài, vừa ở bên trong các môn đệ. Bên ngoài, vì Đấng Pa-rác-lê xác định thế gian có tội (16,9) và cho biết thủ lãnh thế gian đã bị xét xử. Bên trong các môn đệ, vì Đấng Pa-rác-lê mặc khải cho các môn đệ những điều đó để họ xác tín và giữ vững niềm tin trong hoàn cảnh bị khủng hoảng.

Với sự xuất hiện các đại từ “Thầy” (ngôi thứ nhất, số ít) và “anh em” (ngôi thứ hai, số nhiều), đoạn văn 16,4b-11 là lời Đức Giê-su nói với các môn đệ về hoạt động của Đấng Pa-rác-lê trong tương lai gần: Sau khi Đức Giê-su đi về với Cha, Đấng Pa-rác-lê sẽ đến và hoạt động nơi các môn đệ. Đồng thời đối với cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I, những lời mặc khải của Đức Giê-su ở 16,4b-11 giúp cộng đoàn sau biến cố Phục Sinh, xác tín là Đấng Pa-rác-lê đang ở giữa họ. Đấng Pa-rác-lê đang ở với và đồng hành với các môn đệ qua mọi thời đại và không ngừng mặc khải cho người tin biết sự thật về thế gian. Nhờ đó, trong hoàn cảnh khó khăn thử thách, người tin vẫn kiên trì giữ vững niềm tin. Độc giả có thể đọc thêm các bài viết liên quan đến Ga 16,4b-11: Đấng Pa-rác-lê là ai?”, Thế gian là gì? Thế gian là ai?”, và phân tích chi tiết về đề tài: “Chứng minh thế gian sai lầm” trong tập sách ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, tr. 216-270./.


Ngày 20 tháng 05 năm 2012
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com